Trong các vụ ly hôn tại Đài Loan, ngoài cách thức chấm dứt quan hệ hôn nhân, quý vị còn phải phân biệt việc chỉnh lý hộ tịch, hiệu lực ở nước ngoài, tài sản vợ chồng, bồi thường thiệt hại, khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn (贍養費), các quyết định liên quan đến con chưa thành niên và tiền cấp dưỡng nuôi con (扶養費). Dù cùng một tình tiết có thể trở thành tài liệu cho nhiều yêu cầu khác nhau, điều kiện và hiệu lực của mỗi quyền, đối tượng phải chứng minh và thời hạn của chúng đều không giống nhau.
Đặc biệt, với những gia đình có liên hệ với từ hai quốc gia hoặc khu vực trở lên, chẳng hạn giữa Việt Nam và Đài Loan, quý vị khó có thể quyết định toàn bộ thủ tục nếu chỉ nhìn vào quốc tịch của một bên hoặc nơi đăng ký kết hôn. Trước hết phải xác nhận nơi có trung tâm cuộc sống hiện tại, tình trạng các bản án và đăng ký đã có, nơi lập văn bản, nơi cư trú của con và nơi có tài sản, thì mới giảm được các thủ tục trùng lặp không cần thiết và khoảng trống trong việc thi hành.
1. Ba con đường ly hôn tại Đài Loan và những điểm cần xác nhận đầu tiên trong vụ việc có yếu tố nước ngoài
Theo pháp luật Đài Loan, các con đường ly hôn về cơ bản chia thành ba loại. Thứ nhất là ly hôn thuận tình (兩願離婚), trong đó các đương sự đáp ứng những điều kiện về văn bản, người làm chứng và việc đăng ký tại cơ quan hộ tịch (戶政機關). Thứ hai là ly hôn qua hòa giải hoặc thỏa thuận tại tòa, trong đó các bên đạt được sự đồng thuận tại tòa án và quan hệ hôn nhân chấm dứt theo biên bản hòa giải (調解筆錄) hoặc biên bản thỏa thuận tại tòa (和解筆錄). Thứ ba là ly hôn theo bản án của tòa án (裁判離婚), trong đó một bên chủ trương và chứng minh căn cứ ly hôn luật định để được tòa án ra bản án cho ly hôn. Chỉ riêng việc hai bên có sự đồng thuận không làm cho điều kiện thành lập và hiệu lực của ba con đường này hoán đổi cho nhau.
Nếu có yếu tố nước ngoài, quý vị phải tách riêng năm câu hỏi sau đây. Tòa án hoặc cơ quan hành chính Đài Loan có thẩm quyền tài phán hoặc thẩm quyền xử lý hay không; pháp luật của nơi nào được áp dụng làm luật áp dụng cho vấn đề ly hôn, tài sản vợ chồng và con cái; việc ly hôn hoặc bản án của nước ngoài có được công nhận tại Đài Loan hay có hiệu lực đến đâu; hộ tịch Đài Loan đòi hỏi thủ tục nào và văn bản đã được chứng nhận nào; tại quốc gia hoặc khu vực liên quan khác có cần khai báo, công nhận hay thi hành riêng hay không. Từng câu hỏi phải được xác nhận riêng biệt.
Quốc tịch của đương sự, việc có phải là người nước ngoài hay không, hoặc nơi kết hôn — chỉ một yếu tố trong số đó không quyết định được cả năm vấn đề nêu trên. Ví dụ, việc có thể tiến hành thủ tục tại Đài Loan hay không và việc bản án nước ngoài có phát sinh hiệu lực tại Đài Loan hay không là hai câu hỏi khác nhau; hộ tịch Đài Loan đã được chỉnh lý xong cũng không đương nhiên làm cho việc đăng ký quan hệ nhân thân tại quốc gia hoặc khu vực bên kia hoàn tất theo. Đó là lý do vì sao, trước khi chọn phương thức ly hôn, quý vị nên chỉnh lý cụ thể tình trạng hôn nhân và hộ tịch hiện tại cùng hiệu lực pháp lý mà mình mong muốn đạt được.
2. Điều kiện của ly hôn thuận tình và việc đăng ký tại cơ quan hộ tịch
Theo Điều 1050 Bộ luật Dân sự (民法), ly hôn thuận tình phải được lập thành văn bản, phải có từ hai người làm chứng trở lên ký tên sau khi đã xác nhận cả hai bên thực sự có ý chí ly hôn, đồng thời phải đăng ký ly hôn (離婚登記) tại cơ quan hộ tịch thì mới phát sinh hiệu lực. Chỉ riêng bản thỏa thuận đã ký không làm cho việc ly hôn hoàn tất; nếu có yếu tố nước ngoài, quý vị còn phải xác nhận riêng về luật áp dụng, việc chứng nhận và dịch thuật văn bản, cũng như việc khai báo tại quốc gia hoặc khu vực khác.
Việc lập văn bản, chữ ký của từ hai người làm chứng trở lên và việc đăng ký ly hôn tại cơ quan hộ tịch là ba điều kiện độc lập với nhau. Người làm chứng không đơn thuần là người ghi thêm tên mình vào một văn bản đã soạn sẵn, mà phải ký tên sau khi đã nhận biết và xác nhận rằng cả hai bên thực sự có ý chí ly hôn. Vì vậy, bản thỏa thuận riêng chỉ có chữ ký của các đương sự tuy có thể là chứng cứ về sự đồng thuận liên quan đến tài sản hoặc con cái, nhưng tự nó không làm phát sinh hiệu lực về nhân thân của việc ly hôn thuận tình theo pháp luật Đài Loan.
Các giấy tờ cần chuẩn bị trên thực tế — người nộp đơn, việc có được ủy quyền cho người khác hay không, giấy tờ chứng minh nhân thân và tài liệu hộ tịch, văn bản ly hôn — phải được chuẩn bị theo hướng dẫn về đăng ký ly hôn của Cục Hộ tịch, Bộ Nội chính (內政部戶政司) tại thời điểm nộp đơn và theo xác nhận của Văn phòng Hộ tịch (戶政事務所) có thẩm quyền. Văn bản được lập ở nước ngoài, tùy theo loại văn bản và nơi lập, có thể phải qua chứng nhận (認證) của cơ quan đại diện Đài Loan ở nước ngoài (駐外館處) hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác; khi hướng dẫn chính thức yêu cầu, quý vị còn phải nộp kèm bản dịch tiếng Trung đã được chứng nhận hoặc công chứng (公證). Một danh mục cố định duy nhất không thể áp dụng nguyên xi cho mọi vụ việc có yếu tố nước ngoài.
Khi bản án ly hôn của tòa án Đài Loan có hiệu lực pháp luật, hoặc khi việc hòa giải, thỏa thuận tại tòa được thành lập và làm chấm dứt quan hệ hôn nhân, thì về nguyên tắc bất kỳ bên nào cũng có thể đăng ký ly hôn tại cơ quan hộ tịch. Theo Điều 48 Luật Hộ tịch (戶籍法), thời hạn nộp đơn đăng ký hộ tịch thông thường là 30 ngày kể từ ngày bản án ly hôn của Đài Loan có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày việc hòa giải, thỏa thuận tại tòa được thành lập. Ngày tống đạt hay ngày nhận được bản án, biên bản không phải là mốc khởi tính chung cho mọi vụ việc. Đơn nộp sau khi hết thời hạn vẫn phải được Văn phòng Hộ tịch tiếp nhận; nếu sau khi đã thông báo bằng văn bản mà vẫn không ai nộp đơn, thì cơ quan hộ tịch sẽ tự mình đăng ký kết quả đã đủ điều kiện của tòa án theo Điều 48-2 Luật Hộ tịch. Việc để lỡ thời hạn nộp đơn không làm mất hiệu lực của việc ly hôn đã phát sinh. Thủ tục trực tuyến chỉ có thể sử dụng trong thời hạn nộp đơn luật định, nhưng không được giải thích 30 ngày đó như một thời hạn riêng chỉ dành cho việc nộp đơn trực tuyến.
3. Hòa giải và tố tụng tại tòa án, việc có mặt và thủ tục kháng cáo, khiếu nại
Không phải lúc nào cũng như vậy. Tòa án Đài Loan có thể căn cứ vào tính chất của sự việc gia đình để ra lệnh cho đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật đích thân có mặt; nếu không tuân theo mà không có lý do chính đáng thì theo Điều 13 Luật Sự việc Gia đình (家事事件法) dẫn chiếu áp dụng Điều 303 Bộ luật Tố tụng Dân sự (民事訴訟法), lần đầu có thể bị phạt tiền hành chính không quá 30.000 Đài tệ mới (新臺幣, TWD). Tuy nhiên, việc có bắt buộc phải cùng hòa giải trong một không gian hay không, và việc tách phòng, biện pháp an toàn, tham gia qua người đại diện hoặc các biện pháp tố tụng khác có khả thi hay không, vẫn phải xác nhận theo tòa án và tình hình của từng vụ việc.
Các sự việc gia đình được quy định trong Luật Sự việc Gia đình về nguyên tắc phải qua hòa giải tại tòa án trước khi xét xử. Ngay cả vụ việc khởi kiện thẳng ra tòa cũng có trường hợp được pháp luật coi là đơn yêu cầu hòa giải; tuy nhiên, do có các quy định ngoại lệ về phương thức tống đạt, về tính chất của sự việc và về việc chuyển đổi thủ tục, nên không thể giải thích rằng mọi vụ việc đều đi theo một trình tự duy nhất không thể thay đổi. Trong thủ tục hòa giải, ngoài ý chí ly hôn, các tranh chấp liên quan như tài sản, con cái và phương thức chi trả cũng có thể được chỉnh lý cùng lúc; nhưng thỏa thuận bất lợi cho con chưa thành niên thì không thể được công nhận nguyên trạng.
Chế tài theo Điều 13 Luật Sự việc Gia đình chỉ được đặt ra khi tòa án ra lệnh cho chính đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật đích thân có mặt. Nếu không tuân theo lệnh mà không có lý do chính đáng thì Điều 303 Bộ luật Tố tụng Dân sự được dẫn chiếu áp dụng và lần đầu có thể bị phạt tiền hành chính không quá 30.000 Đài tệ, nhưng không được căn cứ vào việc dẫn chiếu này để áp giải. Sau đó, nếu tòa án đã thông báo hợp lệ một lần nữa mà đương sự vẫn không có mặt và không có lý do chính đáng, thì có thể bị xử phạt liên tiếp. Ngược lại, cũng không thể hứa trước rằng việc bố trí phòng riêng, phương thức họp qua hình ảnh, việc chỉ người đại diện tham gia hay các biện pháp an toàn sẽ được chấp thuận trong một vụ việc cụ thể; vì vậy quý vị phải trình bày hoàn cảnh với tòa án và xác nhận chỉ dẫn về thủ tục.
Khi việc hòa giải hoặc thỏa thuận tại tòa được thành lập, quan hệ hôn nhân chấm dứt theo phương thức mà pháp luật quy định và phát sinh hiệu lực như bản án đã có hiệu lực pháp luật. Nếu hòa giải không thành, việc xét xử có thể được tiếp tục theo thủ tục được áp dụng; đối với ly hôn bằng bản án, điểm mấu chốt là bản án phải có hiệu lực pháp luật. Thời gian của vụ việc thay đổi tùy theo việc tống đạt, số lần hòa giải, các tình tiết và chứng cứ bị tranh chấp, việc giám định hoặc điều tra, các tranh chấp về con cái, việc tống đạt ra nước ngoài và cấp xét xử, nên không thể đưa ra một thời điểm hoàn tất cố định.
Việc khiếu nại cũng không thể xác định chỉ bằng cách nhìn vào tên gọi của văn bản. Tùy theo đó là kháng cáo bản án, khiếu nại quyết định, hay một thủ tục riêng để tranh chấp về việc thành lập hoặc hiệu lực của hòa giải, thỏa thuận tại tòa, con đường và thời hạn sẽ khác nhau. Quý vị phải xác nhận ngày tống đạt, việc đã có hiệu lực pháp luật hay chưa và tư cách của mình trong thủ tục, rồi mới tính thời hạn tương ứng với loại việc đó; không được đem thời hạn nghe được trong một vụ việc áp dụng sang một vụ xét xử hoặc một thủ tục đăng ký khác.
4. Căn cứ ly hôn theo bản án của tòa án và giới hạn đối với người phối ngẫu có lỗi
Điều khoản ngoại lệ (但書) tại khoản 2 Điều 1052 Bộ luật Dân sự hiện hành ấn định rằng, khi sự kiện nghiêm trọng làm đổ vỡ hôn nhân chỉ do một bên phải chịu trách nhiệm thì về nguyên tắc chỉ bên kia mới được yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp Đài Loan (憲法法庭) trong Phán quyết Hiến pháp số 4 năm 112 (112年憲判字第4號) đã nhận định rằng: trong phạm vi mà quy định này tước bỏ hoàn toàn cơ hội ly hôn của người phối ngẫu có lỗi mà không xét đến việc sự kiện nghiêm trọng đó đã phát sinh hoặc kéo dài trong một khoảng thời gian đáng kể hay chưa, khiến kết quả trở nên rõ ràng hà khắc trong vụ việc cụ thể, thì quy định đó vi hiến. Điều luật vẫn còn nguyên, vì vậy không được kết luận một cách tuyệt đối là có thể hay không thể, mà phải xem tòa án áp dụng ý chỉ của phán quyết và các tình tiết cụ thể như thế nào.
Khoản 1 Điều 1052 Bộ luật Dân sự liệt kê mười căn cứ, theo đó một bên có thể yêu cầu ly hôn theo bản án của tòa án khi bên kia có những sự kiện sau đây.
- Song hôn (重婚).
- Có quan hệ tình dục trên cơ sở đồng thuận với người không phải là vợ hoặc chồng của mình.
- Ngược đãi bên kia đến mức không thể chịu đựng được cuộc sống chung.
- Một bên ngược đãi thân thuộc trực hệ của bên kia, hoặc thân thuộc trực hệ của một bên ngược đãi bên kia, khiến không thể chịu đựng được cuộc sống chung.
- Tình trạng cố ý ruồng bỏ (惡意遺棄) bên kia vẫn đang tiếp diễn.
- Đã có ý định giết bên kia.
- Mắc bệnh nặng không thể chữa khỏi.
- Mắc bệnh tâm thần nghiêm trọng không thể chữa khỏi.
- Sống chết không rõ đã quá ba năm.
- Bị bản án có hiệu lực pháp luật tuyên hình phạt tù có thời hạn trên sáu tháng vì tội cố ý.
Khoản 2 đặt ra một căn cứ chung riêng biệt cho trường hợp khó duy trì hôn nhân vì sự kiện nghiêm trọng khác ngoài mười căn cứ nêu trên. Do đó, vụ việc chủ trương một căn cứ cụ thể theo khoản 1 và vụ việc chủ trương tình trạng khó duy trì hôn nhân theo khoản 2 phải được phân biệt về cấu trúc pháp lý và đối tượng phải chứng minh. Dù thời hạn lập pháp theo phán quyết của Tòa án Hiến pháp về đoạn nhưng tại khoản 2 đã trôi qua, tính đến ngày 25 tháng 7 năm 2026 câu chữ của đoạn nhưng đó vẫn chưa bị xóa bỏ, và tòa án phải áp dụng ý chỉ về nhận định vi hiến của phán quyết trong từng vụ việc cụ thể.
Ngay cả khi không liên lạc được với vợ hoặc chồng, hoặc khi người đó đã bỏ nhà đi, quý vị cũng không được trộn lẫn các căn cứ. Căn cứ tại khoản 1 về việc sống chết không rõ quá ba năm, căn cứ tại khoản 1 về tình trạng cố ý ruồng bỏ vẫn tiếp diễn, và căn cứ tại khoản 2 về sự kiện nghiêm trọng khác khiến khó duy trì hôn nhân là những căn cứ khác nhau. Việc trình báo mất tích với cảnh sát có thể là chứng cứ cho thấy nơi ở và diễn biến sự việc, nhưng không phải là điều kiện tiên quyết bắt buộc của mọi yêu cầu ly hôn. Cũng không có yêu cầu phổ quát nào buộc quý vị phải khởi kiện đòi thực hiện nghĩa vụ chung sống trước thì mới được chủ trương việc cố ý ruồng bỏ hay sự kiện nghiêm trọng. Chỉ riêng việc rời khỏi nhà vài tháng cũng không làm cho một căn cứ nào đó thành lập; phải xem xét các tình tiết cụ thể như lý do rời đi, lý do chính đáng để sống riêng, việc liên lạc và chu cấp, cùng tính liên tục của tình trạng đó.
Việc quan hệ tình dục có sự đồng thuận với người không phải là vợ hoặc chồng có thuộc căn cứ tại khoản 1 hay không, phải được xem xét dựa trên tình tiết chính xác, điều kiện luật định và các thời hạn liên quan. Việc tình tiết đó tồn tại không làm cho kết luận về ly hôn theo bản án của tòa án, bồi thường thiệt hại theo Điều 1056, phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại, khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn theo Điều 1057, quyền và nghĩa vụ đối với con chưa thành niên hay tiền cấp dưỡng nuôi con được ấn định đồng loạt. Mỗi vấn đề được phán định theo điều kiện riêng của nó và theo tiêu chuẩn tương ứng, chẳng hạn lợi ích tốt nhất của con.
5. Kết hôn ở nước ngoài, ly hôn ở nước ngoài và hộ tịch Đài Loan
Đối với vụ việc kết hôn hoặc ly hôn ở nước ngoài, không thể coi việc đăng ký kết hôn tại Đài Loan trước hay việc khởi kiện ly hôn tại Đài Loan là lựa chọn duy nhất. Nếu đã có hành vi về nhân thân hoặc bản án được xác lập ở nước ngoài, trước hết phải xác nhận hiệu lực và khả năng được công nhận của chúng; nếu thủ tục còn chưa bắt đầu, phải so sánh thẩm quyền tài phán, luật áp dụng và hiệu quả đăng ký, thi hành dự kiến.
Khi xem xét vụ việc, quý vị hãy xác nhận quốc tịch, nơi cư trú và nơi cư trú thường xuyên (經常居所) của từng đương sự, nơi và phương thức kết hôn hoặc ly hôn, tình trạng hộ tịch Đài Loan hiện tại và hồ sơ quan hệ nhân thân ở nước ngoài, cùng sự tồn tại của bản án, biên bản hòa giải hay giấy chứng nhận ly hôn của nước ngoài đã có. Nếu có bản án nước ngoài, còn phải xem xét tính công bằng về mặt thủ tục, chẳng hạn bên kia có được tống đạt hợp lệ và có cơ hội tự bảo vệ hay không. Cuối cùng, phải xác định rõ tại Đài Loan quý vị mong muốn hiệu lực nào trong số các hiệu lực sau: chấm dứt quan hệ hôn nhân, thay đổi hộ tịch, phán định về tài sản, hay việc thi hành án.
Lời giải thích rằng việc ly hôn đã được xác lập theo pháp luật sở tại của nước ngoài, hay một tờ giấy chứng nhận ly hôn của nước ngoài, không đủ để kết thúc mọi thủ tục tại Đài Loan. Ngược lại, cũng không phải mọi trường hợp ly hôn ở nước ngoài đều cần cùng một vụ kiện công nhận hay cùng một bộ giấy tờ. Việc công nhận hoặc phán định hiệu lực mà Đài Loan yêu cầu, cũng như việc đăng ký hộ tịch, có thể khác nhau tùy theo đó là bản án hay giấy chứng nhận hành chính, tùy theo quốc gia lập văn bản và hình thức văn bản, và tùy theo tình trạng hộ tịch của đương sự.
Văn bản nước ngoài có thể phải qua chứng nhận của cơ quan đại diện Đài Loan ở nước ngoài hoặc của cơ quan có thẩm quyền khác, và theo hướng dẫn chính thức đối với từng loại văn bản, có thể cần bản dịch tiếng Trung đã được chứng nhận hoặc công chứng. Văn bản lập tại Trung Quốc đại lục và văn bản lập tại Hồng Kông, Ma Cao tuân theo quy tắc kiểm chứng riêng, khác với văn bản nước ngoài thông thường, nên quý vị phải nêu chính xác nơi lập văn bản. Trước khi nộp, cần xác nhận với hướng dẫn mới nhất của Cục Hộ tịch và với cơ quan có thẩm quyền về các yêu cầu đối với bản gốc, việc chứng nhận, việc dịch thuật và việc nộp đơn thông qua người đại diện.
6. Tên người đứng đăng ký nhà, tiền có trước hôn nhân và việc phân chia tài sản còn lại
Không phải như vậy. Tên người đứng đăng ký nhà và nguồn gốc tiền mua nhà là chứng cứ quan trọng, nhưng các yêu cầu riêng lẻ như quyền sở hữu, tặng cho, đăng ký đứng tên hộ (借名登記), cho vay hay được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (不當得利) là vấn đề khác với việc phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại (剩餘財產差額分配) theo Điều 1030-1 Bộ luật Dân sự. Quý vị phải xem xét tách bạch thỏa thuận trên thực tế, nguyên nhân và thời điểm xác lập quyền, dòng tiền, các khoản nợ, việc có được tài sản một cách không có đền bù hay không cùng các chứng cứ liên quan; chỉ riêng việc dùng tiền có trước hôn nhân trả một phần chi phí, hoặc việc nhà được đăng ký dưới tên một bên, không quyết định toàn bộ kết luận.
Vấn đề nhà ở phải được tách thành ba tầng. Trước hết, xem xét ai là chủ sở hữu của tài sản cụ thể đó căn cứ vào việc đăng ký và nguyên nhân xác lập quyền. Tiếp theo, xem xét việc tặng cho, đăng ký đứng tên hộ, cho vay, tín thác (信託), được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, yêu cầu hoàn trả chi phí hay yêu cầu khác theo hợp đồng có thành lập hay không, căn cứ vào thỏa thuận trên thực tế và tính chất của việc cung cấp tiền. Cuối cùng, xem xét riêng việc tài sản đó hoặc giá trị của nó cùng các khoản nợ liên quan có được đưa vào cách tính phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại khi chế độ tài sản pháp định chấm dứt hay không. Chỉ riêng việc dùng tiền tiết kiệm có trước hôn nhân để trả tiền đặt cọc hay trả nợ vay không làm chuyển dịch tên người đứng đăng ký; và chỉ riêng việc đăng ký dưới tên một bên cũng không kết thúc mọi vấn đề về hợp đồng, quyền hưởng lợi, việc hoàn trả và tài sản vợ chồng.
Điều 1017 Bộ luật Dân sự phân biệt tài sản trước hôn nhân (婚前財產) với tài sản trong hôn nhân (婚後財產) và đặt ra quy tắc suy đoán rằng tài sản khó chứng minh được là có vào thời điểm nào thì là tài sản trong hôn nhân. Đây là điểm xuất phát cho việc phân loại và chứng minh phục vụ cách tính của chế độ tài sản, chứ không phải lối tắt để xác định chủ sở hữu bất kể việc đăng ký, hay để loại bỏ các yêu cầu riêng lẻ của bên kia. Chỉ khi kết nối được với nhau các sao kê chuyển khoản, hợp đồng mua bán, hợp đồng vay và lịch sử trả nợ, biên lai, tin nhắn giữa các đương sự, tài liệu thuế, tài liệu đăng ký cùng nguyên nhân và thời điểm xác lập quyền, thì quan hệ pháp luật trên thực tế mới lộ rõ.
Điều 1030-1 Bộ luật Dân sự là chế độ theo đó, khi chế độ tài sản pháp định chấm dứt, người ta tính phần tài sản ròng trong hôn nhân đáp ứng điều kiện luật định của mỗi bên vợ chồng và về nguyên tắc chia đều phần chênh lệch giữa hai bên. Đây không phải là chế độ biến toàn bộ tài sản riêng lẻ có được trong hôn nhân thành tài sản chung, cũng không phải chế độ chia đôi từng vật. Tài sản có được do thừa kế hoặc do được nhận không có đền bù khác, cùng tiền bù đắp tổn thất tinh thần (慰撫金), được loại trừ khỏi cách tính do luật định; quý vị còn phải xem xét cả các quy định liên quan như các khoản nợ và việc định đoạt tài sản trước khi chế độ tài sản chấm dứt. Nếu kết quả chia đều phần chênh lệch là rõ ràng bất công khi đối chiếu với các tình tiết luật định, tòa án có thể điều chỉnh hoặc miễn số tiền phải chia.
Bản thân việc quan hệ tình dục với người không phải là vợ hoặc chồng, hay trách nhiệm làm đổ vỡ hôn nhân, không đương nhiên loại trừ hay làm giảm quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại. Tuy nhiên, các tình tiết cụ thể thuộc những yếu tố điều chỉnh do luật định — như việc che giấu hay định đoạt tài sản, đóng góp vào công việc gia đình và việc nuôi dạy con, toàn bộ hoàn cảnh của cuộc sống chung và của việc tạo lập tài sản — vẫn có thể được chủ trương và chứng minh riêng. Cũng không được kết luận rằng chỉ vì hai bên khác quốc tịch mà cách tính theo Điều 1030-1 sẽ khác đi.
Quyền yêu cầu này sẽ chấm dứt nếu không được thực hiện trong hai năm kể từ ngày biết có phần chênh lệch tài sản còn lại, và trong mọi trường hợp là trong năm năm kể từ khi chế độ tài sản pháp định chấm dứt. Hai thời hạn này chỉ được gắn với yêu cầu theo Điều 1030-1, không được dùng làm thời hạn cho quyền sở hữu, tiền cho vay, bồi thường thiệt hại, khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn hay tiền cấp dưỡng nuôi con. Mốc khởi tính trên thực tế và thời điểm chế độ tài sản pháp định chấm dứt phải được xác nhận riêng cho từng vụ việc thông qua tài liệu.
7. Bồi thường thiệt hại do ly hôn, cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn, chung sống không kết hôn và người thứ ba
Đây không phải cùng một quyền. Quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại theo Điều 1030-1 Bộ luật Dân sự, bồi thường thiệt hại khi ly hôn theo bản án của tòa án theo Điều 1056, khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn (贍養費) dành cho người phối ngẫu không có lỗi theo Điều 1057, và tiền cấp dưỡng nuôi con đối với con chưa thành niên có điều kiện phát sinh, cách tính và thời hạn khác nhau. Quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại chịu thời hạn hai năm kể từ ngày biết có phần chênh lệch và năm năm kể từ khi chế độ tài sản pháp định (法定財產制) chấm dứt, nhưng không được đem thời hạn đó áp dụng nguyên xi cho các yêu cầu khác.
Bồi thường thiệt hại theo Điều 1056 Bộ luật Dân sự là quyền được xem xét trong vụ ly hôn theo bản án của tòa án, đối với bên kia là người có lỗi, bằng cách phân biệt thiệt hại về tài sản với thiệt hại phi tài sản đáp ứng điều kiện luật định (điểm loại trừ tại khoản 2: bên yêu cầu phải không có lỗi). Quý vị phải dùng chứng cứ để chứng minh hành vi có lỗi, thiệt hại, quan hệ nhân quả và các điều kiện riêng của yêu cầu bồi thường phi tài sản. Chỉ vì có tình tiết liên quan đến việc đổ vỡ hôn nhân thì không vì thế mà một số tiền nhất định được ấn định, hay một yêu cầu tài sản khác thành lập để thay thế.
Khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn theo Điều 1057 Bộ luật Dân sự lấy tiền đề là việc ly hôn theo bản án của tòa án khiến người phối ngẫu không có lỗi lâm vào cảnh sống túng quẫn. Trước hết phải xác nhận đó là ly hôn thuận tình hay ly hôn theo bản án của tòa án, người yêu cầu có lỗi hay không, và người đó có thực sự lâm vào cảnh túng quẫn vì việc ly hôn hay không; sau đó mới phán định phạm vi bằng tài liệu cụ thể về nhu cầu và khả năng tài chính. Không thể lấy mức chi tiêu bình quân trong thống kê của chính phủ hay lỗi của bên kia làm công thức tính có giá trị ràng buộc.
Nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên là quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ với con, khác với khoản cấp dưỡng giữa hai người từng là vợ chồng theo Điều 1057. Việc phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại theo Điều 1030-1 cũng là việc quyết toán chế độ tài sản hôn nhân, không thay thế cho bồi thường thiệt hại hay cho các khoản cấp dưỡng nêu trên. Nếu có yêu cầu bồi thường do hành vi trái pháp luật đối với người không phải là vợ hoặc chồng, yêu cầu hoàn trả một tài sản cụ thể, yêu cầu đòi tiền cho vay hay yêu cầu theo hợp đồng, thì phải xác định riêng căn cứ pháp lý, các bên, thiệt hại và thời hạn của từng yêu cầu. Không thể gắn cho mọi quyền một thời hạn năm năm duy nhất tính từ ngày ly hôn; phải xác nhận riêng thời điểm phát sinh, thời điểm biết được, sự kiện, tình trạng thủ tục và quy tắc về thời hiệu của từng yêu cầu.
Người chung sống mà không kết hôn không có được các quyền phát sinh từ hôn nhân — như quyền ly hôn hay khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn — chỉ vì đã sống chung với nhau. Tuy nhiên, nếu trên thực tế có tài sản chung, việc cho vay, hợp đồng, đăng ký đứng tên hộ, tín thác, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật hay hành vi trái pháp luật, thì các quan hệ đó vẫn có thể được phân tích như quan hệ tài sản và quan hệ nghĩa vụ độc lập với việc có kết hôn hay không. Không thể chỉ dựa vào thời gian chung sống để hứa hẹn một sự phân chia đặt trên tiền đề có quan hệ hôn nhân, cũng không thể khẳng định trước việc khôi phục một quyền cụ thể nào.
Người thân thuộc của vợ hoặc chồng, chẳng hạn gia đình bên chồng hay gia đình bên vợ, không phải là người có nghĩa vụ trả khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn theo Điều 1057 Bộ luật Dân sự. Chỉ riêng việc chủ trương rằng đã có sự can thiệp nghiêm trọng hay lời lăng mạ từ người thứ ba cũng không lập tức làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Yêu cầu đối với người thứ ba đòi hỏi phải có căn cứ pháp lý riêng theo chế định hành vi trái pháp luật hoặc theo luật tài sản, cùng hành vi trái pháp luật, lỗi cố ý hay vô ý, thiệt hại và quan hệ nhân quả — tức là các điều kiện tương ứng cùng chứng cứ.
8. Quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên và lợi ích tốt nhất của con
Theo Điều 1055 và Điều 1055-1 Bộ luật Dân sự, tòa án lấy lợi ích tốt nhất của con chưa thành niên làm tiêu chuẩn để phán định các vấn đề liên quan đến con, bao gồm việc thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên (未成年子女權利義務之行使或負擔) và việc thăm nom, tiếp xúc với con (會面交往). Tòa án tổng hợp các yếu tố luật định và tài liệu cụ thể như tuổi, sức khỏe, ý nguyện và nhu cầu phát triển của con, điều kiện sống, năng lực và thái độ chăm sóc của cha mẹ, quan hệ tình cảm với con, việc có cản trở quan hệ giữa con với người kia hay không; do đó không thể chỉ dựa vào thu nhập của cha mẹ hay trách nhiệm làm đổ vỡ hôn nhân để định đoạt kết luận.
Khái niệm chính xác trong pháp luật Đài Loan là việc thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên. Khái niệm này có thể bao gồm nhiều nội dung như nơi ở của con, việc chăm sóc hằng ngày, các quyết định về giáo dục và y tế, việc quản lý tài sản và việc đại diện theo pháp luật. Để cho tiện, người ta có thể gọi tắt là quyền của cha mẹ hay quyền nuôi con, nhưng không được coi rằng một từ ngắn gọn như vậy đã diễn đạt trọn vẹn toàn bộ quyền và nghĩa vụ theo pháp luật Đài Loan.
Theo Điều 1055 Bộ luật Dân sự, sau khi ly hôn cha mẹ có thể thỏa thuận về việc ai sẽ thực hiện và gánh vác các quyền, nghĩa vụ này. Nếu không có thỏa thuận hoặc không thỏa thuận được thì tòa án có thể quyết định; nếu thỏa thuận bất lợi cho con thì tòa án có thể sửa đổi hoặc ra quyết định cần thiết. Ngay cả khi sau một quyết định đã có mà hoàn cảnh thay đổi và lợi ích của con đòi hỏi phải thay đổi, việc thẩm tra của tòa án cũng có thể được đặt ra. Bản thỏa thuận ly hôn đã ký không chặn được việc thẩm tra lợi ích tốt nhất về sau, và không thể coi việc thay đổi thỏa thuận chỉ là chuyện nộp một biểu mẫu hộ tịch.
Trong việc thẩm tra theo Điều 1055-1 Bộ luật Dân sự, tòa án tổng hợp các yếu tố như tuổi, giới tính, số lượng và sức khỏe của con; ý nguyện của con và nhu cầu phát triển nhân cách; tuổi, nghề nghiệp, phẩm hạnh, sức khỏe, năng lực kinh tế và hoàn cảnh sống của cha mẹ; ý chí và thái độ bảo hộ, giáo dưỡng; quan hệ tình cảm giữa cha mẹ với con; cùng các tình tiết cho thấy một bên đã cản trở quan hệ giữa người kia với con. Tòa án lắng nghe ý kiến của con theo phương thức luật định và có thể tham khảo việc điều tra cùng ý kiến của cơ quan liên quan hay của chuyên gia phúc lợi trẻ em. Thu nhập cao hay trách nhiệm làm đổ vỡ hôn nhân chỉ có thể là một trong nhiều tình tiết, chứ không phải tiêu chuẩn quyết định duy nhất, cũng không phải hình thức thưởng phạt.
Khi các điều kiện thành lập của con đường ly hôn đã chọn được đáp ứng, quan hệ hôn nhân có thể chấm dứt trước, ngay cả khi một phần tranh chấp về tài sản hay con cái vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, không được coi đây là lối tắt có thể khuyến nghị cho mọi vụ việc. Quý vị phải kiểm tra đồng thời việc bảo toàn và quyết toán tài sản chưa giải quyết xong, nơi ở cùng việc chăm sóc, y tế và giáo dục của con, những thỏa thuận hay quyết định nào của tòa án là cần thiết về tiền cấp dưỡng nuôi con và việc thăm nom, tiếp xúc với con, cũng như việc có cần biện pháp tạm thời (暫時處分) để bảo đảm an toàn và tính liên tục của cuộc sống trong thời gian tranh chấp hay không.
9. Tiền cấp dưỡng nuôi con, thăm nom, thi hành án và biện pháp tạm thời
Theo Điều 1116-2 Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên của cha mẹ vẫn tiếp tục sau khi ly hôn. Đây là quyền khác với khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn theo Điều 1057 Bộ luật Dân sự. Mức đóng góp cụ thể phải được ấn định sau khi dùng tài liệu xác nhận chi phí sinh hoạt, chi phí giáo dục, chi phí y tế và các nhu cầu đặc biệt của con, cùng thu nhập, tài sản, khả năng nuôi dưỡng của từng người cha, người mẹ và việc phân chia chăm sóc trên thực tế.
Khi muốn thay đổi thỏa thuận hay bản án về tiền cấp dưỡng nuôi con đã có, phải thẩm tra đồng thời nhu cầu hiện tại của con, nguồn lực và hoàn cảnh sống hiện tại của cả cha và mẹ, nội dung cùng hình thức của văn bản đã có, quá trình chi trả và lợi ích tốt nhất của con. Không thể giới hạn rằng mọi thay đổi đều phải có một sự kiện mà các đương sự hoàn toàn không thể lường trước. Ngược lại, chỉ riêng biến động giá cả hay chủ trương của một bên cũng không làm cho mức thay đổi được ấn định ngay, nên cần tài liệu chứng minh các khoản chi mới nhất và khả năng chi trả.
Khi việc thăm nom, tiếp xúc với con bị cản trở, quý vị hãy xem xét — căn cứ vào nội dung và khả năng thi hành của thỏa thuận hay bản án đã có, diễn biến của việc cản trở, ý nguyện, sự an toàn và lịch sinh hoạt của con — rằng mình có thể yêu cầu tòa án quyết định hay thay đổi nội dung, yêu cầu thi hành, hay yêu cầu biện pháp tạm thời thích hợp hay không. Cần chỉnh lý thỏa thuận và bản án hiện hành, lịch sử liên lạc, ngày giờ cùng địa điểm đã thực sự cố gắng gặp con, lịch học và lịch khám chữa bệnh, cùng các tình tiết ảnh hưởng đến sự an toàn và ổn định.
Ngay cả trong việc thi hành theo Điều 194 Luật Sự việc Gia đình, phương pháp cũng phải được lựa chọn cho phù hợp với lợi ích tốt nhất của con, và tùy vụ việc mà phương thức cưỡng chế trực tiếp hay cưỡng chế gián tiếp có thể được đặt ra. Chỉ riêng việc tiếp xúc bị cản trở không bảo đảm kết quả là lập tức sử dụng vũ lực hay giao con, xử phạt bên kia, hay thay đổi việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên. Các bước và phương pháp phải được ấn định sau khi cân nhắc tuổi và ý nguyện của con, tình trạng được bảo hộ hiện tại, tác động về mặt tình cảm của việc thi hành và sự an toàn.
Trong việc thi hành nghĩa vụ trả tiền cấp dưỡng nuôi con, điều quan trọng là câu chữ của căn cứ thi hành án đã có, kỳ hạn thanh toán, số tiền chưa trả và lịch sử chi trả; còn trong việc thi hành nội dung thăm nom, tiếp xúc với con, điều quan trọng là phương thức và điều kiện tiếp xúc có cụ thể hay không. Việc trả tiền cấp dưỡng nuôi con và việc thực hiện thăm nom, tiếp xúc với con không phải là những phương tiện có thể đem ra trao đổi để trả đũa lẫn nhau; vì cuộc sống của con, mỗi nghĩa vụ và mỗi thủ tục phải được xử lý một cách độc lập.
10. Di cư quốc tế cùng với con
Chỉ riêng thỏa thuận rằng con sẽ sống tại Việt Nam không làm cho mức chi phí sinh hoạt tại Việt Nam trở thành một công thức tính tiền cấp dưỡng nuôi con độc lập. Phải xem xét đồng thời chi phí thực tế về chỗ ở, giáo dục, y tế và đi lại cùng nhu cầu của con, thu nhập, tài sản và phần chăm sóc mà mỗi người cha, người mẹ gánh vác, cùng thỏa thuận hay bản án đã có. Chi phí tại quốc gia nơi con sinh sống có thể là tài liệu để đánh giá các khoản chi cụ thể, nhưng tự nó không quyết định mức đóng góp.
Trong việc di cư quốc tế, trước hết phải xác nhận ai có thẩm quyền quyết định nơi ở và việc đi lại của con, và liệu đã có sự đồng ý của người cha hay người mẹ còn lại, hay có lệnh nào của tòa án được áp dụng hay không. Tiếp theo, hãy xem xét việc di cư có phù hợp với lợi ích tốt nhất của con hay không, và ảnh hưởng thế nào đến giáo dục, y tế, tính liên tục của cuộc sống cùng việc thăm nom, tiếp xúc lâu dài với người cha hay người mẹ ở lại. Cần có kế hoạch khả thi trên thực tế, chẳng hạn tần suất liên lạc, thời gian lưu lại trong kỳ nghỉ, chi phí đi lại và địa điểm giao nhận con.
Việc cấp và sử dụng hộ chiếu, việc nhập cảnh và xuất cảnh tại Đài Loan cũng như tại nơi đến, các yêu cầu về cư trú, di trú và đăng ký quan hệ nhân thân là những vấn đề tách biệt với quyết định dân sự về quyền, nghĩa vụ đối với con. Quý vị cũng phải xác nhận bản án hay thỏa thuận về con đã có có thể được công nhận và thi hành tại Đài Loan và tại nơi đến hay không. Nếu có lo ngại cụ thể về việc đưa con đi, việc từ chối đưa con trở lại, hay về rủi ro an toàn, thì phải xem xét theo từng thẩm quyền tài phán liên quan rằng có thể xin biện pháp bảo toàn hay biện pháp tạm thời nào trước khi xuất cảnh hay trong tình huống khẩn cấp.
Không được mặc định rằng Công ước La Hay năm 1980 về các khía cạnh dân sự của hành vi bắt cóc trẻ em quốc tế đương nhiên được áp dụng tại Đài Loan. Đối với việc đưa con qua biên giới, giữ con lại hay trả con về, quý vị phải xác nhận ý kiến tư vấn và khả năng thi hành ở từng thẩm quyền tài phán, căn cứ vào nơi con đã ở, nơi con đang ở, các bên liên quan và tình trạng của các vụ xét xử; không thể kết luận chỉ bằng tên gọi của một công ước. Hành vi đưa con đi hay không đưa con trở lại trái với thỏa thuận hay lệnh đã có là điều không được khuyến khích; trước khi di chuyển, phải xác nhận sự đồng ý hợp pháp hoặc bản án, cùng các biện pháp bảo vệ khẩn cấp.
11. Chứng cứ và việc chuẩn bị trên thực tế
Tài liệu không phải là thứ thu thập để gây sức ép với bên kia, mà được chỉnh lý như hồ sơ nhằm trình bày chính xác thẩm quyền tài phán, thủ tục, các tình tiết và nhu cầu của con. Nếu quý vị chuẩn bị chín nhóm sau đây sao cho thể hiện được trình tự thời gian của vụ việc và nguồn gốc bản gốc của từng văn bản, quý vị sẽ giảm được nguy cơ nhầm lẫn giữa các yêu cầu và các thời hạn khác nhau.
- Chỉnh lý giấy chứng nhận kết hôn và tài liệu hộ tịch Đài Loan, cùng quốc tịch, nơi cư trú, nơi cư trú thường xuyên và địa chỉ hiện tại của từng đương sự. Hãy ghi rõ cả việc trung tâm cuộc sống trên thực tế và địa chỉ có thể tống đạt được có khác với nội dung ghi trên giấy tờ hay không.
- Thu thập theo từng thủ tục: bản thỏa thuận ly hôn bằng văn bản và diễn biến việc người làm chứng xác nhận ý chí ly hôn thực sự, hồ sơ của tòa án, biên bản tống đạt, biên bản hòa giải, biên bản thỏa thuận tại tòa, bản án cùng tài liệu chứng minh bản án đã có hiệu lực pháp luật.
- Xác nhận hồ sơ kết hôn, ly hôn ở nước ngoài và bản án hay giấy chứng nhận của nước ngoài, việc chứng nhận của cơ quan đại diện Đài Loan ở nước ngoài hay của cơ quan có thẩm quyền, bản dịch tiếng Trung cùng việc đã được chứng nhận hay công chứng hay chưa, và tình trạng công nhận, hiệu lực cũng như đăng ký tại Đài Loan.
- Kết nối vào một danh mục tổng thể: hợp đồng về tài sản vợ chồng và chế độ tài sản được áp dụng, tài sản có, các khoản nợ, tên người đứng đăng ký, nguyên nhân và thời điểm xác lập quyền, cùng tài liệu về chuyển khoản, định đoạt, vay, trả nợ, thuế và định giá.
- Lập một bảng thời gian trung lập về các sự kiện và thời điểm của căn cứ ly hôn mà quý vị chủ trương, và bảo toàn ở trạng thái nguyên bản các dữ liệu liên lạc thu thập hợp pháp, tài liệu y tế, tài liệu của cảnh sát cùng các chứng cứ khác. Hãy phân biệt giữa suy đoán và tình tiết mà quý vị đã trực tiếp xác nhận.
- Chuẩn bị theo góc nhìn lợi ích tốt nhất của con: tuổi, sức khỏe, việc học và nơi ở của từng người con, quá trình chăm sóc trong quá khứ và hiện tại, ý nguyện phù hợp với mức độ phát triển của con, quan hệ với từng người cha, người mẹ, cùng tài liệu về sự an toàn và ổn định.
- Chỉnh lý cùng nhau các thỏa thuận và bản án hiện hành liên quan đến con, việc chi trả tiền cấp dưỡng nuôi con và chi phí thực tế, diễn biến việc thăm nom, tiếp xúc với con, giấy tờ đi lại, lịch trình di chuyển và kế hoạch di cư quốc tế cụ thể.
- Gắn mọi mốc thời gian của việc nộp đơn, đăng ký, kháng cáo bản án, khiếu nại quyết định, thực hiện quyền yêu cầu và thi hành án với đúng sự kiện khởi tính của từng mốc. Không dùng lẫn lộn giữa ngày tuyên án, ngày tống đạt, ngày bản án có hiệu lực pháp luật, ngày việc hòa giải hay thỏa thuận tại tòa được thành lập, ngày biết được quyền của mình và ngày chế độ tài sản chấm dứt.
- Số định danh cá nhân, địa chỉ, tài liệu y tế, giáo dục và tài chính của vợ hoặc chồng và của con chỉ được chuyển cho những người và cơ quan cần thiết, trong phạm vi cần thiết; hãy lập kế hoạch bảo vệ dữ liệu cá nhân bao gồm quyền truy cập tệp, phương thức truyền gửi và việc hủy bản sao.
Không được lấy việc theo dõi trái pháp luật, truy cập tài khoản của người khác, xâm nhập điện thoại di động hay máy tính, định vị, ghi âm trái pháp luật hay công bố thông tin riêng tư của con làm phương pháp thu thập chứng cứ. Việc trả đũa bên kia, che giấu hay chuyển dịch tài sản một cách giả tạo, đưa con đi trái với thỏa thuận hay bản án cũng có thể tạo thêm rủi ro cho vụ việc và cho chính con. Nếu chưa rõ về tính hợp pháp của tài liệu và cách thức bảo toàn, quý vị phải xác nhận pháp luật được áp dụng và thủ tục của tòa án trước khi thu thập.
12. Tài liệu chính thức
Các tài liệu gốc dưới đây, tính đến ngày 25 tháng 7 năm 2026, là điểm xuất phát để kiểm chứng cấu trúc pháp lý và thủ tục được trình bày trong bài viết này. Trước khi hành động trên thực tế, quý vị phải kiểm tra lại việc văn bản đã được sửa đổi hay chưa, hướng dẫn mới nhất của cơ quan có thẩm quyền và câu chữ được áp dụng cho vụ việc của mình.
- Cơ sở dữ liệu pháp quy toàn quốc Đài Loan: Bộ luật Dân sự
- Bộ Tư pháp Đài Loan: bản tiếng Anh của Bộ luật Dân sự
- Cơ sở dữ liệu pháp quy toàn quốc Đài Loan: Luật Sự việc Gia đình
- Cơ sở dữ liệu pháp quy toàn quốc Đài Loan: Điều 303 Bộ luật Tố tụng Dân sự
- Cơ sở dữ liệu pháp quy toàn quốc Đài Loan: các quy định về biện pháp tạm thời trong việc dân sự phi tố tụng về gia đình (家事非訟事件)
- Cơ sở dữ liệu pháp quy toàn quốc Đài Loan: Luật Hộ tịch
- Cục Hộ tịch, Bộ Nội chính Đài Loan: hướng dẫn đăng ký ly hôn
- Cơ sở dữ liệu pháp quy toàn quốc Đài Loan: Luật Áp dụng Pháp luật đối với Quan hệ Dân sự có Yếu tố Nước ngoài (涉外民事法律適用法)
- Tòa án Hiến pháp Đài Loan: Phán quyết Hiến pháp số 4 năm 112 (112年憲判字第4號)
- Tòa án Hiến pháp Đài Loan: bản tiếng Anh của Phán quyết Hiến pháp số 4 năm 112
13. Hướng dẫn liên quan
Bài viết này là tài liệu mang tính giáo dục nhằm giải thích một cách khái quát chế độ ly hôn, gia đình có yếu tố nước ngoài, tài sản vợ chồng và con chưa thành niên tại Đài Loan, không phải ý kiến tư vấn pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Thủ tục và kết quả có thể khác nhau tùy theo thẩm quyền tài phán, luật áp dụng, việc công nhận bản án nước ngoài, tình trạng hôn nhân và hộ tịch, chế độ tài sản, các thỏa thuận hay bản án đã có liên quan đến con, tình tiết cùng chứng cứ của vụ việc và các quy định chính thức mới nhất. Đối với thời hạn đăng ký, khiếu nại, thực hiện quyền yêu cầu và thi hành án, xin quý vị xác nhận riêng cho từng quyền và từng thủ tục theo đúng mốc khởi tính của chúng trước khi hành động.
Luật sư Wei Tseng (曾雋崴)
Frequently Asked Questions
- Tại Đài Loan, ly hôn thuận tình có phát sinh hiệu lực ngay khi hai bên ký vào bản thỏa thuận không?
- Theo Điều 1050 Bộ luật Dân sự (民法), ly hôn thuận tình (兩願離婚) phải được lập thành văn bản, phải có từ hai người làm chứng trở lên ký tên sau khi đã xác nhận cả hai bên thực sự có ý chí ly hôn, đồng thời phải đăng ký ly hôn (離婚登記) tại cơ quan hộ tịch (戶政機關) thì mới phát sinh hiệu lực. Chỉ riêng bản thỏa thuận đã ký không làm cho việc ly hôn hoàn tất; nếu có yếu tố nước ngoài, quý vị còn phải xác nhận riêng về luật áp dụng, việc chứng nhận và dịch thuật văn bản, cũng như việc khai báo tại quốc gia hoặc khu vực khác.
- Trong thủ tục hòa giải ly hôn tại tòa án Đài Loan, vợ chồng có bắt buộc phải cùng có mặt không?
- Không phải lúc nào cũng như vậy. Tòa án Đài Loan có thể căn cứ vào tính chất của sự việc gia đình để ra lệnh cho đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật đích thân có mặt; nếu không tuân theo mà không có lý do chính đáng thì theo Điều 13 Luật Sự việc Gia đình (家事事件法) dẫn chiếu áp dụng Điều 303 Bộ luật Tố tụng Dân sự (民事訴訟法), lần đầu có thể bị phạt tiền hành chính không quá 30.000 Đài tệ mới (新臺幣, TWD). Tuy nhiên, việc có bắt buộc phải cùng hòa giải trong một không gian hay không, và việc tách phòng, biện pháp an toàn, tham gia qua người đại diện hoặc các biện pháp tố tụng khác có khả thi hay không, vẫn phải xác nhận theo tòa án và tình hình của từng vụ việc.
- Người vợ hoặc chồng có lỗi trong việc làm đổ vỡ hôn nhân có thể yêu cầu ly hôn theo bản án của tòa án tại Đài Loan không?
- Điều khoản ngoại lệ (但書) tại khoản 2 Điều 1052 Bộ luật Dân sự hiện hành ấn định rằng, khi sự kiện nghiêm trọng làm đổ vỡ hôn nhân chỉ do một bên phải chịu trách nhiệm thì về nguyên tắc chỉ bên kia mới được yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, Tòa án Hiến pháp Đài Loan (憲法法庭) trong Phán quyết Hiến pháp số 4 năm 112 (112年憲判字第4號) đã nhận định rằng: trong phạm vi mà quy định này tước bỏ hoàn toàn cơ hội ly hôn của người phối ngẫu có lỗi mà không xét đến việc sự kiện nghiêm trọng đó đã phát sinh hoặc kéo dài trong một khoảng thời gian đáng kể hay chưa, khiến kết quả trở nên rõ ràng hà khắc trong vụ việc cụ thể, thì quy định đó vi hiến. Điều luật vẫn còn nguyên, vì vậy không được kết luận một cách tuyệt đối là có thể hay không thể, mà phải xem tòa án áp dụng ý chỉ của phán quyết và các tình tiết cụ thể như thế nào.
- Việc dùng tiền có trước hôn nhân để trả tiền mua nhà, hoặc đăng ký nhà dưới tên một bên, có quyết định luôn quyền sở hữu và việc phân chia tài sản không?
- Không phải như vậy. Tên người đứng đăng ký nhà và nguồn gốc tiền mua nhà là chứng cứ quan trọng, nhưng các yêu cầu riêng lẻ như quyền sở hữu, tặng cho, đăng ký đứng tên hộ (借名登記), cho vay hay được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật (不當得利) là vấn đề khác với việc phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại (剩餘財產差額分配) theo Điều 1030-1 Bộ luật Dân sự. Quý vị phải xem xét tách bạch thỏa thuận trên thực tế, nguyên nhân và thời điểm xác lập quyền, dòng tiền, các khoản nợ, việc có được tài sản một cách không có đền bù hay không cùng các chứng cứ liên quan; chỉ riêng việc dùng tiền có trước hôn nhân trả một phần chi phí, hoặc việc nhà được đăng ký dưới tên một bên, không quyết định toàn bộ kết luận.
- Phân chia tài sản còn lại, bồi thường thiệt hại do ly hôn, cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn và tiền cấp dưỡng nuôi con có phải là cùng một yêu cầu không?
- Đây không phải cùng một quyền. Quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại theo Điều 1030-1 Bộ luật Dân sự, bồi thường thiệt hại khi ly hôn theo bản án của tòa án theo Điều 1056, khoản cấp dưỡng cho vợ/chồng sau ly hôn (贍養費) dành cho người phối ngẫu không có lỗi theo Điều 1057, và tiền cấp dưỡng nuôi con (扶養費) đối với con chưa thành niên có điều kiện phát sinh, cách tính và thời hạn khác nhau. Quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại chịu thời hạn hai năm kể từ ngày biết có phần chênh lệch và năm năm kể từ khi chế độ tài sản pháp định (法定財產制) chấm dứt, nhưng không được đem thời hạn đó áp dụng nguyên xi cho các yêu cầu khác.
- Tòa án Đài Loan phán định các vấn đề liên quan đến con chưa thành niên theo tiêu chuẩn nào?
- Theo Điều 1055 và Điều 1055-1 Bộ luật Dân sự, tòa án lấy lợi ích tốt nhất của con chưa thành niên làm tiêu chuẩn để phán định các vấn đề liên quan đến con, bao gồm việc thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên (未成年子女權利義務之行使或負擔) và việc thăm nom, tiếp xúc với con (會面交往). Tòa án tổng hợp các yếu tố luật định và tài liệu cụ thể như tuổi, sức khỏe, ý nguyện và nhu cầu phát triển của con, điều kiện sống, năng lực và thái độ chăm sóc của cha mẹ, quan hệ tình cảm với con, việc có cản trở quan hệ giữa con với người kia hay không; do đó không thể chỉ dựa vào thu nhập của cha mẹ hay trách nhiệm làm đổ vỡ hôn nhân để định đoạt kết luận.

