Khi chấm dứt công ty tại Đài Loan, vốn điều lệ và tài sản của công ty được xử lý như thế nào?
← Back to columnsLegal Information

Khi chấm dứt công ty tại Đài Loan, vốn điều lệ và tài sản của công ty được xử lý như thế nào?

Attorney Wei Tseng18 phút đọc

Sau khi thành lập công ty tại Đài Loan, một khi quyết định kết thúc hoạt động kinh doanh, câu hỏi đầu tiên mà quý vị thường đặt ra là liệu có thể chuyển thẳng số vốn điều lệ (資本額) đã nộp ban đầu vào tài khoản của cổ đông hay không. Tuy nhiên, kể từ thời điểm tiền góp vốn đi vào tài khoản của công ty, khoản tiền đó đã cấu thành tài sản của công ty. Tài sản của công ty thuộc về công ty, chứ không phải là tài sản cá nhân của cổ đông. Ngay cả khi cổ đông sở hữu toàn bộ công ty hoặc đồng thời là thành viên hội đồng quản trị hoặc người quản trị duy nhất (董事), nguyên tắc cơ bản này cũng không vì thế mà thay đổi.

Vì vậy, cổ đông không được tự do rút tiền gửi hay tài sản của công ty chỉ với lý do trước đây mình đã góp vốn. Tiền gửi đứng tên công ty, khoản phải thu, thiết bị, xe, bất động sản, tiền đặt cọc và quyền sở hữu trí tuệ đều phải được xử lý trong quan hệ quyền và nghĩa vụ của công ty. Ngược lại, nếu công ty thực sự có nghĩa vụ trả nợ đối với cổ đông thì phải xác nhận sự tồn tại của khoản nợ đó và căn cứ hoàn trả thông qua hợp đồng, chứng từ chuyển tiền, sổ sách kế toán và nghị quyết.

Việc giải thể (解散) và thanh lý (清算) để xóa bỏ công ty vĩnh viễn, việc giảm vốn (減資) trong khi công ty vẫn tồn tại, việc chi trả chi phí kinh doanh thông thường, việc chia cổ tức trên tiền đề có lợi nhuận, và việc hoàn trả khoản vay mà công ty thực sự gánh chịu là những phạm trù pháp lý và thuế khác nhau. Bề ngoài, tất cả đều có thể biểu hiện giống nhau là tiền đi ra khỏi tài khoản công ty, nhưng nghị quyết cần thiết, việc bảo vệ chủ nợ, chứng từ, cách hạch toán kế toán, việc khấu trừ tại nguồn và phương thức kê khai thì không giống nhau.

Chỉ riêng việc ngừng vận hành công ty cũng không làm mất đi tư cách pháp nhân (法人格) hay nghĩa vụ kê khai. Nếu quý vị chọn chấm dứt vĩnh viễn thì phải nối kết đăng ký giải thể (解散登記) với thanh lý để sắp xếp hợp đồng, quyền đòi nợ, khoản nợ, thuế và tài sản còn lại (剩餘財產) của công ty. Nếu hiện tại quý vị vẫn muốn giữ khả năng khởi động lại hoạt động kinh doanh thì có thể xem xét việc tạm ngừng kinh doanh (停業), nhưng tạm ngừng kinh doanh không phải là thủ tục kết thúc sự tồn tại của công ty.

Bài viết này giải thích riêng từng nội dung thường bị nhầm lẫn khi xem xét việc chấm dứt công ty tại Đài Loan: tài sản của công ty, tiền cổ phần đã nộp (股款), giảm vốn, giải thể, thanh lý, yêu cầu tuyên bố phá sản (聲請宣告破產), phân chia tài sản còn lại và tạm ngừng kinh doanh. Trình tự và giấy tờ trên thực tế có thể khác nhau tùy theo loại hình công ty, điều lệ công ty, tình hình tài chính, chủ nợ, giấy phép, quan hệ lao động, đầu tư nước ngoài và cấu trúc chuyển tiền, nên ở mỗi giai đoạn quý vị phải phán đoán trên cơ sở tài liệu hiện hành.

1. Tài sản của công ty và phần vốn góp của cổ đông phải được tách bạch

Nếu muốn chấm dứt công ty vĩnh viễn thì về nguyên tắc phải thực hiện đăng ký giải thể và thanh lý; sau khi xử lý xong các khoản nợ và nghĩa vụ thuế, phần tài sản còn lại mới được phân chia cho cổ đông. Nếu công ty vẫn tiếp tục tồn tại mà muốn hoàn trả phần vốn góp (出資額), quý vị phải xem xét các thủ tục hợp pháp phù hợp với loại hình công ty, chẳng hạn như giảm vốn. Đối với chi phí kinh doanh thông thường, cổ tức và việc hoàn trả khoản vay mà công ty thực sự gánh chịu, phải xác nhận riêng căn cứ cùng thủ tục pháp lý và thuế của từng loại giao dịch.

Vốn điều lệ là khoản mục vốn thể hiện số tiền cổ đông đã nộp khi công ty được thành lập hoặc khi tăng vốn (增資). Vốn điều lệ không phải lúc nào cũng trùng với số dư hiện tại trong tài khoản của công ty, và cũng không thể dùng riêng một từ “vốn điều lệ” để giải thích toàn bộ tài sản mà công ty đã có được hay các khoản nợ mà công ty đã gánh chịu trong quá trình kinh doanh. Tại thời điểm chấm dứt công ty, quý vị phải xem xét đồng thời tài sản và nợ phải trả trên thực tế, khoản phải thu và khoản phải trả, thuế, nợ tiềm tàng cùng chi phí thanh lý, chứ không chỉ nhìn con số vốn điều lệ trên sổ sách.

Khi phán đoán khả năng hoàn trả phần vốn góp cho cổ đông, trước hết phải xác định tính chất pháp lý của giao dịch. Điều kiện áp dụng sẽ khác nhau tùy theo đó là chi phí mà công ty gánh chịu để mua hàng hóa hoặc dịch vụ, là cổ tức đã được ấn định hợp pháp, là việc hoàn trả khoản tiền mà cổ đông cho công ty vay, là việc giảm vốn nhằm cắt giảm vốn, hay là việc phân chia tài sản còn lại sau khi thanh lý. Việc chỉ đổi tên gọi của giao dịch hoặc tùy tiện đặt tài khoản kế toán trên sổ sách không làm thay đổi tính chất đó.

Điều 9 Luật Công ty Đài Loan (公司法) quy định rằng, đối với khoản tiền cổ phần mà công ty phải thu, nếu ghi nhận là đã nộp đủ toàn bộ trong khi thực tế chưa được nộp, hoặc nếu sau khi đã đăng ký thì hoàn trả tiền cổ phần cho cổ đông hoặc để cổ đông thu hồi, thì có thể bị phạt tù có thời hạn đến năm năm, hình phạt giam ngắn hạn (拘役), hoặc tiền phạt hình sự (罰金) từ 500.000 đến 2.500.000 Đài tệ mới (新臺幣, TWD). Đây không phải là điều khoản trừng phạt việc sử dụng tiền của công ty một cách thông thường và hợp pháp nói chung.

Không được mở rộng điều khoản này cho mọi khoản chi từ tài khoản của công ty. Ví dụ, việc trả tiền thuê mặt bằng, tiền lương, tiền hàng hoặc tiền thuế phục vụ hoạt động kinh doanh thực tế phải được phân biệt với việc giả tạo là đã nộp tiền cổ phần trong khi thực tế chưa nộp (假裝繳納), hay với việc hoàn trả tiền cổ phần sau khi đăng ký. Tuy vậy, ngay cả khi đã gắn danh nghĩa chi phí kinh doanh, nếu mục đích sử dụng thực tế, bên đối tác hợp đồng, sự tồn tại của khoản đối giá và thẩm quyền quyết định không rõ ràng thì vẫn có thể phát sinh những vấn đề riêng theo Luật Công ty, luật thuế và chuẩn mực kế toán.

Trường hợp người thanh lý (清算人) phân chia tài sản của công ty cho cổ đông trước khi thanh toán các khoản nợ của công ty thì theo Điều 90 Luật Công ty, có thể bị phạt tù có thời hạn đến một năm, hình phạt giam ngắn hạn, hoặc tiền phạt hình sự đến 60.000 Đài tệ.

Trong thanh lý, việc xử lý chủ nợ và thuế được ưu tiên hơn việc cổ đông thu hồi vốn đầu tư. Ngay cả khi cổ đông khẳng định mình có quyền đòi nợ đối với công ty từ một khoản cho vay, vẫn phải xác nhận hợp đồng cho vay trên thực tế, dòng tiền, thỏa thuận lãi suất, việc phản ánh trên sổ kế toán và thứ tự thanh toán. Nếu đó là giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết (關係人) thì cũng cần xem xét liệu điều kiện giao dịch và chứng từ có giải thích được như một giao dịch với bên thứ ba độc lập hay không.

Các trách nhiệm dân sự, hình sự và thuế khác được xác định theo những tình tiết cụ thể như mục đích của việc chuyển tiền, thẩm quyền, chứng từ, cách hạch toán kế toán và quan hệ giữa các bên. Không thể kết luận rằng chỉ vì đã có một giao dịch nhất định thì đương nhiên cấu thành tội bội tín (背信) hay tội danh khác; ngược lại, cũng không thể coi rằng chỉ vì đã có sự chấp thuận nội bộ thì mọi trách nhiệm đều được loại trừ. Quý vị phải kiểm tra theo từng giao dịch xem văn bản nghị quyết, hợp đồng, tài liệu tính và kê khai thuế, sao kê ngân hàng cùng sổ sách có khớp với nhau hay không.

Trên thực tiễn, việc trước hết tách danh mục tài sản đứng tên công ty khỏi tài sản đứng tên cá nhân cổ đông, rồi lập một bảng riêng để sắp xếp các quyền đòi nợ và khoản nợ giữa công ty với cổ đông, là rất hữu ích. Nếu bù trừ trong cùng một tài khoản kế toán các chi phí cá nhân đã thanh toán bằng thẻ của công ty, các chi phí của công ty do người chịu trách nhiệm của công ty (公司負責人) ứng trả, số tiền công ty vay của cổ đông và số tiền cổ đông rút ra từ công ty, thì căn cứ của giao dịch có thể trở nên mờ nhạt. Quý vị phải liên kết riêng từng khoản với ngày phát sinh, mục đích, người phê duyệt, chứng từ và cách xử lý thuế.

2. Thủ tục chấm dứt công ty vĩnh viễn

Công ty trách nhiệm hữu hạn (有限公司) cần có sự đồng ý của cổ đông nắm từ hai phần ba quyền biểu quyết (表決權) trở lên. Công ty cổ phần (股份有限公司) về nguyên tắc phải có các cổ đông đại diện từ hai phần ba tổng số cổ phần đã phát hành (已發行股份總數) trở lên tham dự, và phải được quá bán quyền biểu quyết của cổ đông tham dự tán thành. Nếu công ty đại chúng (公開發行公司) không đáp ứng được điều kiện tham dự nêu trên thì có thể thông qua nghị quyết với sự tham dự của các cổ đông đại diện quá bán tổng số cổ phần đã phát hành và sự tán thành của từ hai phần ba quyền biểu quyết của cổ đông tham dự trở lên. Điều lệ công ty (章程) có thể quy định điều kiện cao hơn. Đăng ký giải thể phải được nộp trong vòng 15 ngày kể từ khi giải thể.

Giải thể là thủ tục pháp lý chấm dứt hoạt động kinh doanh thông thường của công ty và chuyển sang giai đoạn thanh lý; còn thanh lý là thủ tục sắp xếp các công việc và quan hệ tài sản còn lại của công ty sau đó. Việc chỉ hoàn tất đăng ký giải thể không làm mọi khoản nợ tiêu tan, cũng không tự động biến tài sản của công ty thành tài sản của cổ đông. Người thanh lý phải điều tra quyền và nghĩa vụ của công ty, bảo vệ chủ nợ, xử lý các khoản nợ và thuế, rồi sau đó mới phán đoán được phần tài sản có thể phân chia.

Trình tự dưới đây là khung kiểm tra mang tính khái quát. Cơ quan tiếp nhận, giấy tờ, việc công bố hay thông báo, cách xử lý thuế và việc trình báo lên tòa án trên thực tế phải được xác nhận theo loại hình công ty, nguyên nhân giải thể và tình tiết của từng vụ việc.

  1. Điều tra hiện trạng trước khi chấm dứt. Quý vị thu thập điều lệ công ty và sổ đăng ký cổ đông (股東名簿), các nội dung đăng ký mới nhất, sổ sách kế toán, báo cáo tài chính cùng hồ sơ kê khai thuế. Lập danh sách các hợp đồng đang còn hiệu lực, người lao động, hợp đồng thuê, giấy phép, tài sản, khoản nợ, nghĩa vụ bảo lãnh, thuế, vụ kiện và vụ việc thi hành án, cùng các tài khoản ngân hàng. Nếu công ty được thành lập sau khi có phê duyệt đầu tư nước ngoài, quý vị xác nhận thêm cấu trúc đầu tư, đường chuyển tiền của cổ đông và các tài liệu ngân hàng, ngoại hối cần thiết cho việc chuyển vốn ra nước ngoài. Trước khi ra nghị quyết chấm dứt, phải nắm được chi phí chấm dứt hợp đồng, việc sắp xếp quan hệ lao động, các hạn chế đối với việc định đoạt tài sản và khả năng thực hiện quyền bảo đảm, thì mới tính toán được nguồn tiền cho thanh lý một cách thực tế.

  2. Ra nghị quyết giải thể phù hợp với loại hình công ty. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, theo Điều 113 Luật Công ty, cần có sự đồng ý của cổ đông nắm từ hai phần ba quyền biểu quyết trở lên. Đối với công ty cổ phần, theo Điều 316 Luật Công ty, về nguyên tắc phải có các cổ đông đại diện từ hai phần ba tổng số cổ phần đã phát hành trở lên tham dự, và phải được quá bán quyền biểu quyết của cổ đông tham dự tán thành. Nếu công ty đại chúng không đạt điều kiện tham dự đó thì có thể thông qua nghị quyết với sự tham dự của các cổ đông đại diện quá bán tổng số cổ phần đã phát hành và sự tán thành của từ hai phần ba quyền biểu quyết của cổ đông tham dự trở lên. Nếu điều lệ công ty quy định điều kiện cao hơn về số cổ phần tham dự hoặc số quyền biểu quyết thì cũng phải tuân theo điều lệ đó. Việc triệu tập cuộc họp, việc thực hiện quyền biểu quyết, việc lập biên bản họp và xung đột lợi ích cũng phải được kiểm tra riêng.

  3. Nộp đăng ký thay đổi do giải thể trong thời hạn. Theo Điều 4 Biện pháp đăng ký công ty (公司登記辦法), khi nội dung đăng ký của công ty thay đổi thì về nguyên tắc phải nộp đăng ký thay đổi (變更登記) trong vòng 15 ngày kể từ khi thay đổi. Do đó, quý vị chuẩn bị đăng ký thay đổi do giải thể phù hợp với loại hình công ty và nguyên nhân giải thể trong vòng 15 ngày kể từ khi giải thể. Việc có cần đơn đăng ký, văn bản nghị quyết, tài liệu liên quan đến người thanh lý và các phụ lục khác hay không thì phải xác nhận theo mẫu biểu hiện hành và yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền. Đăng ký giải thể, việc xử lý chấm dứt đăng ký thuế (稅籍整理), các thủ tục liên quan đến thuế kinh doanh (營業稅) và việc bãi bỏ hay nộp trả (繳回) giấy phép có thể thuộc những cơ quan phụ trách khác nhau và có hiệu lực pháp lý khác nhau, nên không được coi rằng chỉ một lần khai báo là đã xong tất cả.

  4. Kê khai quyết toán kỳ hiện tại tại thời điểm giải thể. Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp (營利事業所得稅), quý vị thực hiện kê khai quyết toán kỳ hiện tại (決算申報) trong vòng 45 ngày kể từ ngày cơ quan chủ quản (主管機關) phê duyệt việc giải thể. Ở đây, kỳ thuộc diện kê khai, ý nghĩa của ngày phê duyệt và cách tính thời hạn phải được xác nhận theo văn bản phê duyệt của từng trường hợp và quy định được áp dụng. Theo hướng dẫn thuế chính thức, thời hạn được tính từ ngày kế tiếp ngày phát hành công văn phê duyệt của cơ quan chủ quản. Tuy nhiên, quý vị vẫn phải xác nhận lại ngày căn cứ trên thực tế theo loại văn bản mà công ty nhận được và theo nguyên nhân giải thể. Trước khi kê khai, phải phản ánh vào sổ sách các khoản thu và chi phí tính đến ngày giải thể, lãi lỗ từ việc định đoạt tài sản, chi phí phải trả chưa trả, số thuế đã khấu trừ tại nguồn và số thuế đã nộp.

  5. Xác định người thanh lý và tiến hành các thủ tục liên quan đến tòa án cùng chủ nợ. Sau khi bổ nhiệm người thanh lý theo điều lệ công ty hoặc theo nghị quyết của cổ đông, hoặc sau khi xác nhận người thanh lý theo luật định, quý vị trình báo những nội dung cần thiết lên tòa án. Người thanh lý lập bảng kê tài sản và bảng cân đối kế toán (財產目錄及資產負債表), kết thúc các công việc hiện còn của công ty, thu hồi những khoản nợ chưa nhận được và quyết định cách bảo toàn, chuyển đổi tài sản thành tiền. Đồng thời, người thanh lý thanh toán các khoản nợ và thuế, tiến hành những việc thông báo, công bố và thủ tục bảo vệ chủ nợ (債權人保護程序) cần thiết. Sự tồn tại và thứ tự xử lý của các khoản nợ trong quan hệ lao động như tiền lương và trợ cấp thôi việc khi công ty cho thôi việc (資遣費), nợ có bảo đảm, nợ thuế và nợ thông thường phải được xác nhận theo pháp luật liên quan và theo quan hệ sự thật. Khoản trợ cấp này chỉ phát sinh khi công ty cho người lao động thôi việc, chứ không phải là tiền hưu trí (退休金).

  6. Xác định phần tài sản còn lại có thể phân chia. Không chỉ nhìn tiền mặt trên sổ sách, quý vị còn phải phản ánh khả năng thu hồi các khoản nợ chưa thu, chi phí định đoạt tài sản, thuế, rủi ro kiện tụng và chi phí thanh lý. Chỉ phần tài sản còn lại sau khi đã xử lý xong toàn bộ khoản nợ và thuế mới có thể được phân chia cho cổ đông theo quy định được áp dụng, theo điều lệ công ty và theo quan hệ sở hữu phần vốn. Tài sản còn lại không phải là khái niệm giống với vốn điều lệ đã nộp, nên không được mặc định rằng số tiền cổ đông nộp ban đầu sẽ được hoàn trả nguyên vẹn. Tính chất thuế của số tiền phân chia, việc quy thuộc cho từng cổ đông, giấy tờ chuyển tiền cho cổ đông nước ngoài và thủ tục chuyển đổi ngoại tệ cũng phải được xác nhận trước khi phân chia.

  7. Kết thúc thanh lý và thực hiện kê khai cuối cùng. Trong vòng 30 ngày kể từ ngày kết thúc thanh lý, quý vị kê khai thu nhập thanh lý (清算所得申報) và trình báo lên tòa án về việc hoàn tất thanh lý theo yêu cầu. Các khoản thu, chi phí trong kỳ thanh lý và kết quả định đoạt tài sản, số thuế đã nộp, việc thanh toán nợ cùng việc phân chia tài sản còn lại phải khớp với sổ sách và chứng từ. Việc đóng tài khoản ngân hàng, việc bảo quản con dấu và tài liệu, việc lưu giữ sổ sách thuế cùng kế toán theo thời hạn luật định, cũng như trạng thái cuối cùng của giấy phép và hợp đồng, cũng phải được kiểm tra đồng thời. Hiệu lực pháp lý của việc hoàn tất thanh lý và thời điểm chấm dứt tư cách pháp nhân phải được xác nhận trên cơ sở các văn bản đã nộp và thủ tục được áp dụng.

Tuy nhiên, không phải mọi công ty đều áp dụng cùng một bộ giấy tờ và trình tự. Trường hợp giải thể do sáp nhập, chia tách hoặc phá sản thì thủ tục thanh lý thường có thể được miễn. Ngược lại, dù là giải thể tự nguyện, nếu có vụ kiện chưa kết thúc, khoản phải thu dài hạn, bất động sản, tài sản bảo đảm, người lao động, tiền thuế nợ đọng hoặc cấu trúc đầu tư nước ngoài phức tạp thì có thể cần thêm thủ tục. Thời gian cần cho thanh lý thay đổi theo những tình tiết như vậy, nên quý vị không được ra quyết định trên giả định về một khoảng thời gian nhất định.

Khi định đoạt tài sản của công ty trước và sau khi giải thể, quý vị phải xác nhận tính thỏa đáng của bên đối tác giao dịch và của giá cả, quan hệ lợi ích với thành viên hội đồng quản trị hoặc người quản trị và cổ đông, các phê duyệt nội bộ cần thiết cùng hệ quả về thuế. Đặc biệt, các giao dịch chuyển tài sản cho bên có quan hệ liên kết hoặc miễn trừ quyền đòi nợ phải được xem xét riêng về ảnh hưởng đối với công ty và chủ nợ. Điều quan trọng là quản lý nhất quán từ khi nhận tiền giao dịch cho đến khi phản ánh vào sổ sách và kê khai thuế.

3. Trường hợp không đủ tài sản trả nợ hoặc mất khả năng thanh toán

Thanh lý sau khi giải thể không phải là thủ tục chỉ có thể tiến hành khi tài sản của công ty nhiều hơn nợ phải trả. Theo Điều 89 Luật Công ty, khi tài sản của công ty không đủ để thanh toán các khoản nợ thì người thanh lý phải lập tức yêu cầu tuyên bố phá sản. Quý vị phải xác nhận tình trạng không đủ tài sản trả nợ (資不抵債), mất khả năng thanh toán (無力清償), tài sản bảo đảm, nợ thuế và số lượng chủ nợ để phán đoán riêng cho từng trường hợp xem có thể tiếp tục thanh lý thông thường hay không.

Nếu tình hình tài chính không rõ ràng thì không được tính trước số tiền sẽ về tay cổ đông. Việc xác nhận sổ sách, quyền đòi nợ và khoản nợ, tài sản bảo đảm cùng tiền thuế chưa nộp được ưu tiên hơn việc phân chia cho cổ đông. Ngoài báo cáo tài chính kỳ gần nhất, quý vị còn phải phản ánh các khoản nợ phát sinh sau ngày khóa sổ, nghĩa vụ bảo lãnh, yêu cầu trong tố tụng, các khoản liên quan đến người lao động, khả năng bị thanh tra thuế và giá trị định đoạt thực tế của tài sản.

Không đủ tài sản trả nợ nói chung là vấn đề về tình trạng tài chính khi so sánh tài sản với nợ phải trả, còn mất khả năng thanh toán là vấn đề liên quan đến việc có trả được các khoản nợ đã đến hạn hay không. Dù tài sản trên sổ sách nhiều, nếu không thể chuyển thành tiền ngay hoặc đã bị thế chấp thì khả năng thanh toán có thể được đánh giá khác đi. Ngược lại, cũng không thể kết luận rằng chỉ vì thiếu tiền mặt nhất thời thì mọi trường hợp đều áp dụng cùng một thủ tục.

Khi biết rằng tài sản của công ty không đủ để trả nợ, người thanh lý phải xem xét các nghĩa vụ theo Luật Công ty. Ở giai đoạn này, nếu chỉ ưu tiên trả cho một chủ nợ hoặc một cổ đông nhất định thì có thể làm tổn hại lợi ích của các chủ nợ khác và sự công bằng của thủ tục. Loại quyền đòi nợ và quan hệ ưu tiên như quyền bảo đảm, quyền đòi nợ thuế và tiền lương phải được xác nhận theo từng luật được áp dụng, và những khoản đã chi trả cũng phải được ghi lại kèm căn cứ cùng thời điểm.

Không được quyết định việc có yêu cầu tuyên bố phá sản hay không chỉ dựa vào một công thức đơn giản hay vào những điều kiện xuất hiện trong các bản hướng dẫn cũ. Điều cốt lõi là phán đoán bằng tài liệu thực tế: tài sản của công ty có đủ để trả nợ hay không, ngày đến hạn thanh toán và dòng tiền ra sao, tài sản bảo đảm cùng các khoản nợ ưu tiên là gì, và người thanh lý biết được hoàn cảnh đó từ khi nào. Khả năng thu hồi các khoản nợ mà công ty đang nắm giữ và chi phí bán tài sản cũng phải được xem xét theo giá trị thực tế chứ không theo con số danh nghĩa.

Ngay cả khi cổ đông hoặc ban điều hành muốn bơm thêm vốn vào công ty hoặc điều chỉnh khoản nợ, phương thức và hiệu quả của việc đó cũng phải được lập thành văn bản. Khoản cho vay mới, việc tăng vốn, việc miễn nợ hay thỏa thuận với chủ nợ có thể tạo ra những kết quả kế toán và thuế khác nhau. Quý vị phải phán đoán đồng thời liệu các biện pháp này có giải quyết được vấn đề mất khả năng thanh toán đã phát sinh hay không, có xâm phạm quyền của các chủ nợ khác hay không, và sau đó có thể tiếp tục thanh lý thông thường hay không.

4. Giảm vốn trong trường hợp công ty tiếp tục tồn tại

Khi vẫn duy trì bản thân hoạt động kinh doanh nhưng nhu cầu vốn đã giảm hoặc quý vị muốn điều chỉnh cấu trúc vốn, có thể xem xét giảm vốn như một phương pháp hợp pháp để hoàn trả một phần vốn góp trong khi công ty vẫn tồn tại. Tuy nhiên, giảm vốn không phải là công cụ rút tiền không chính thức để cổ đông lấy tiền gửi của công ty bất cứ lúc nào mình muốn, và cũng không phải lúc nào cũng thực hiện được. Trước hết phải xác nhận tình hình tài chính và loại hình của công ty, mục đích giảm vốn, điều lệ công ty và ảnh hưởng đối với chủ nợ.

Giảm vốn là thủ tục theo Luật Công ty nhằm thay đổi vốn điều lệ của công ty. Việc này không hoàn tất chỉ bằng cách chuyển khoản ngân hàng rồi hạ tài khoản vốn điều lệ trên sổ sách. Quý vị phải xác nhận đầy đủ nghị quyết phù hợp với loại hình công ty, việc bảo vệ chủ nợ, việc kiểm tra vốn và hạch toán kế toán, đầu tư nước ngoài, thuế, việc chuyển tiền cùng đăng ký thay đổi. Tỷ lệ biểu quyết cần thiết, việc công bố và thông báo, thủ tục phản đối và giấy tờ phải nộp có thể khác nhau tùy theo công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần và cấu trúc của từng trường hợp.

Khi xem xét giảm vốn, quý vị cũng phải xem nguồn tiền cho khoản hoàn trả là gì. Dù công ty đang có tiền mặt, công ty vẫn phải duy trì được hoạt động kinh doanh sau khi chi trả tiền lương, thuế, tiền hàng, khoản vay, nghĩa vụ bảo lãnh và chi phí vận hành dự kiến. Nếu sau khi giảm vốn mà việc bảo vệ chủ nợ bị suy yếu hoặc công ty khó thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì phải xem xét kỹ lưỡng hơn về thủ tục và về trách nhiệm phán đoán của thành viên hội đồng quản trị hoặc người quản trị.

Đối với công ty có cổ đông nước ngoài, nội dung phê duyệt hoặc báo cáo đầu tư, sổ đăng ký cổ đông và việc thay đổi vốn điều lệ, tài liệu ngoại hối cùng chứng từ chuyển tiền ngân hàng phải khớp với nhau. Việc chuyển tiền giảm vốn ra nước ngoài không phải là việc kết thúc chỉ bằng một nghị quyết; quý vị có thể phải chuẩn bị tài liệu đăng ký, giấy tờ liên quan đến đầu tư, hồ sơ thuế và phần giải trình về tính chất của dòng tiền mà ngân hàng yêu cầu. Chênh lệch kế toán do tỷ giá và do thời điểm chuyển tiền cũng phải được phản ánh vào sổ sách.

Việc đánh thuế đối với số tiền cổ đông nhận được từ giảm vốn không được quyết định chỉ bằng cách gọi đó là “hoàn trả vốn gốc đã nộp”. Quý vị phải xác nhận đồng thời cấu trúc vốn của công ty, phương thức giảm vốn, giá vốn mà cổ đông đã bỏ ra, tính chất của khoản tiền được phân chia và việc đánh thuế tại nước cư trú. Việc khấu trừ tại nguồn, việc kê khai, số thuế đã nộp ở nước ngoài và việc có áp dụng hiệp định liên quan hay không cũng phải được xem xét theo từng cổ đông và từng cấu trúc giao dịch.

Chi phí kinh doanh thông thường khác với giảm vốn. Khi công ty thực sự được cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cần thiết và trả một khoản đối giá hợp lý thì hợp đồng, bảng kê giao dịch, chứng từ liên quan đến thuế và phê duyệt thanh toán chính là căn cứ. Nếu cổ đông, thành viên hội đồng quản trị hoặc người quản trị là bên cung cấp thì phải xác nhận thêm sự cần thiết của giao dịch và giá cả, việc phê duyệt về quan hệ lợi ích cùng các điều kiện để được ghi nhận chi phí.

Cổ tức cũng được phân biệt với giảm vốn hay với việc phân chia sau thanh lý. Cổ tức lấy tiền đề là có lợi nhuận có thể phân phối, có tài liệu tài chính và có nghị quyết theo loại hình công ty, và sau đó có thể kéo theo việc chi trả cho từng cổ đông, việc khấu trừ tại nguồn và việc kê khai. Việc tài khoản công ty có tiền mặt tự nó không có nghĩa là có lợi nhuận có thể phân phối, nên quý vị phải xác nhận lỗ lũy kế (累積虧損), quỹ dự trữ pháp định (法定盈餘公積) và lợi nhuận chưa phân phối (未分配盈餘).

Việc hoàn trả khoản vay mà công ty thực sự gánh chịu cũng là một giao dịch riêng. Nếu cổ đông thực sự đã cho công ty vay tiền thì quý vị xác nhận thời điểm ký hợp đồng, việc chuyển tiền gốc, lãi, ngày đáo hạn, việc ghi chép trên sổ sách và nơi sử dụng thực tế. Ở giai đoạn hoàn trả, phải xem xét vấn đề khấu trừ tại nguồn đối với lãi hoặc vấn đề giao dịch giữa các bên có quan hệ liên kết, và phải tránh cách làm ghi lại phần vốn góp thành khoản cho vay sau khi sự việc đã xảy ra.

Tóm lại, giảm vốn, chi phí, cổ tức và việc hoàn trả khoản vay đều cần những căn cứ riêng như hợp đồng, nghị quyết, chứng từ và việc khấu trừ tại nguồn. Ngay cả khi tiền được chi trả cho cùng một cổ đông trong cùng một ngày, tính chất pháp lý và cách xử lý thuế của từng giao dịch vẫn phải được ghi chép tách bạch. Nếu lấy tiền đề là công ty tiếp tục tồn tại thì điều quan trọng là lưu lại trong tài liệu ra quyết định của hội đồng quản trị (董事會) hoặc của cổ đông phần đánh giá về việc sau khi chi trả công ty có còn vận hành bình thường và trả được nợ hay không.

5. Tạm ngừng kinh doanh trong trường hợp chưa chấm dứt ngay

Công ty tạm ngừng kinh doanh từ một tháng trở lên phải nộp đăng ký tạm ngừng kinh doanh (停業登記) trước khi tạm ngừng hoặc trong vòng 15 ngày (trừ trường hợp đã khai báo và được cơ quan thuế ghi nhận theo Luật Thuế doanh thu — điểm loại trừ tại Điều 3 khoản 1 Quy tắc đăng ký công ty) kể từ ngày bắt đầu tạm ngừng, và mỗi lần tạm ngừng không được quá một năm. Tuy nhiên, trong năm tạm ngừng vẫn có nghĩa vụ kê khai quyết toán thuế thu nhập hằng năm, nên không phải mọi nghĩa vụ kê khai thuế đều được miễn. Quý vị phải xác nhận riêng từng nghĩa vụ theo sắc thuế, tài sản đang nắm giữ, người lao động và các tình tiết khác.

Tạm ngừng kinh doanh là lựa chọn theo đó công ty dừng hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định nhưng vẫn giữ tư cách pháp nhân. Quý vị có thể sử dụng lựa chọn này khi cần thời gian để xem xét khả năng khởi động lại hoạt động kinh doanh hoặc để sắp xếp hợp đồng và tài sản, nhưng nó không có hiệu lực làm công ty biến mất hay giải quyết trọn gói các quyền và nghĩa vụ hiện có. Quý vị phải ấn định ngày bắt đầu và ngày dự kiến kết thúc tạm ngừng, đồng thời xác nhận tình trạng hiện tại xem việc đăng ký công ty và việc kê khai liên quan đến thuế kinh doanh có cần thực hiện riêng hay không.

Ngay trong thời gian tạm ngừng kinh doanh, nếu các nội dung đăng ký như địa chỉ trụ sở, người chịu trách nhiệm, điều lệ công ty hay vốn điều lệ thay đổi thì vẫn phải thực hiện đăng ký thay đổi cần thiết. Quý vị duy trì địa chỉ và người chịu trách nhiệm có thể nhận thư từ cùng thông báo của cơ quan nhà nước; khi có biến động về cổ đông, về người giữ chức vụ đã đăng ký hoặc có thay đổi về vốn thì làm theo thủ tục tương ứng. Không được vì lý do không kinh doanh mà bỏ mặc thông tin đăng ký khác với tình trạng thực tế.

Nếu công ty nắm giữ tài sản như xe hoặc nhà, công trình thì các khoản phải gánh chịu riêng như thuế địa phương, phí quản lý và phí bảo hiểm có thể tiếp tục phát sinh. Nếu công ty nắm giữ bất động sản cho thuê, máy móc, hàng tồn kho hay quyền sở hữu trí tuệ thì vẫn còn các vấn đề kế toán và thuế phát sinh từ việc bảo quản, khấu hao, cho thuê và định đoạt tài sản. Trường hợp cổ đông sử dụng hoặc bảo quản tài sản với tư cách cá nhân, quan hệ quyền lợi và việc gánh chịu chi phí giữa công ty với cá nhân phải được phân định bằng văn bản.

Các nghĩa vụ tiếp diễn về hợp đồng, người lao động, giấy phép, tài khoản ngân hàng và việc lưu giữ sổ sách cũng phải được xác nhận. Trước khi tạm ngừng kinh doanh, quý vị quyết định chấm dứt hay duy trì các hợp đồng giao dịch, xử lý quan hệ lao động một cách hợp pháp, và xem xét điều kiện duy trì cùng thời hạn gia hạn của giấy phép theo từng ngành nghề. Quý vị chỉ định người phụ trách quản lý tài khoản ngân hàng và dữ liệu thuế điện tử, đồng thời xây dựng cơ chế lưu giữ sổ sách kế toán và chứng từ trong thời hạn luật định.

Không thể coi rằng mọi nghĩa vụ kê khai thuế đều được miễn chỉ nhờ một lần đăng ký tạm ngừng kinh doanh. Trong năm tạm ngừng vẫn có nghĩa vụ kê khai quyết toán thuế thu nhập hằng năm (結算申報), và tùy theo giao dịch trước cùng sau khi tạm ngừng, việc nắm giữ hay định đoạt tài sản, việc khấu trừ tại nguồn, người lao động và ngành nghề, có thể vẫn còn những nghĩa vụ kê khai hoặc nộp thuế khác. Việc công ty thực tế không có doanh thu không đồng nghĩa với kết luận rằng không có nghĩa vụ kê khai đối với một sắc thuế nhất định, nên quý vị xác nhận riêng tình trạng đăng ký tại cơ quan thuế có thẩm quyền và từng khoản mục phải kê khai.

Trước khi thời hạn tạm ngừng kinh doanh kết thúc, quý vị phải quyết định sẽ hoạt động trở lại, sẽ xem xét lại các điều kiện tạm ngừng một lần nữa, hay sẽ chuyển sang chấm dứt vĩnh viễn. Nếu hoạt động trở lại thì xác nhận đăng ký hoạt động trở lại (復業登記) cùng tình trạng thuế và giấy phép; nếu chấm dứt thì chuẩn bị giải thể và thanh lý trên cơ sở dữ liệu tài sản cùng nợ phải trả tại thời điểm đó. Khi muốn chấm dứt công ty vĩnh viễn, tạm ngừng kinh doanh không phải là phương án thay thế cho giải thể và thanh lý.

Trạng thái tạm ngừng kinh doanh càng kéo dài thì thủ tục chấm dứt về sau càng có thể trở nên phức tạp hơn, do thay đổi người phụ trách, thất lạc tài liệu, không khai báo việc đổi địa chỉ hoặc không thực hiện các nghĩa vụ khác. Quý vị nên định kỳ kiểm tra sổ đăng ký công ty, tình trạng đăng ký thuế, tài khoản ngân hàng, hợp đồng, tài sản, quyền đòi nợ và khoản nợ cùng lịch sử kê khai; nếu khả năng hoạt động trở lại đã không còn thì phải xem xét thủ tục chấm dứt phù hợp với tình hình thực tế của công ty.

Tài liệu chính thức

  1. Luật Công ty Đài Loan
  2. Biện pháp đăng ký công ty của Bộ Kinh tế Đài Loan (經濟部)
  3. Hướng dẫn của Bộ Tài chính Đài Loan (財政部) về thuế đối với quyết toán, thanh lý và tạm ngừng kinh doanh
  4. Hướng dẫn của Bộ Kinh tế Đài Loan về thời hạn nộp đơn tạm ngừng kinh doanh

Thông tin liên quan

  1. Dịch vụ đầu tư và thành lập công ty tại Đài Loan
  2. Cơ bản về thành lập công ty tại Đài Loan
  3. Liên hệ

Bài viết này là thông tin pháp lý và tài liệu giáo dục mang tính khái quát về việc chấm dứt công ty tại Đài Loan cùng việc xử lý tài sản của công ty, không phải là ý kiến pháp lý cho một vụ việc cụ thể. Vì thủ tục giải thể, thanh lý, giảm vốn, tạm ngừng kinh doanh phù hợp và việc kê khai thuế có thể thay đổi tùy theo loại hình công ty, điều lệ công ty, tình hình tài chính, chủ nợ, đầu tư nước ngoài và từng giao dịch cụ thể, quý vị phải xác nhận riêng vụ việc của mình trước khi ra nghị quyết hoặc chuyển tiền trên thực tế.

Luật sư Wei Tseng (曾雋崴)

Frequently Asked Questions

Để hoàn trả tiền của công ty Đài Loan cho cổ đông, có nhất thiết phải giải thể và thanh lý hay không?
Nếu muốn chấm dứt công ty vĩnh viễn thì về nguyên tắc phải thực hiện đăng ký giải thể (解散登記) và thanh lý (清算); sau khi xử lý xong các khoản nợ và nghĩa vụ thuế, phần tài sản còn lại (剩餘財產) mới được phân chia cho cổ đông. Nếu công ty vẫn tiếp tục tồn tại mà muốn hoàn trả phần vốn góp, quý vị phải xem xét các thủ tục hợp pháp phù hợp với loại hình công ty, chẳng hạn như giảm vốn (減資). Đối với chi phí kinh doanh thông thường, cổ tức và việc hoàn trả khoản vay mà công ty thực sự gánh chịu, phải xác nhận riêng căn cứ cùng thủ tục pháp lý và thuế của từng loại giao dịch.
Điều kiện thông qua nghị quyết giải thể công ty và thời hạn đăng ký được quy định như thế nào?
Công ty trách nhiệm hữu hạn (有限公司) cần có sự đồng ý của cổ đông nắm từ hai phần ba quyền biểu quyết trở lên. Công ty cổ phần (股份有限公司) về nguyên tắc phải có các cổ đông đại diện từ hai phần ba tổng số cổ phần đã phát hành trở lên tham dự, và phải được quá bán quyền biểu quyết của cổ đông tham dự tán thành. Nếu công ty đại chúng (公開發行公司) không đáp ứng được điều kiện tham dự nêu trên thì có thể thông qua nghị quyết với sự tham dự của các cổ đông đại diện quá bán tổng số cổ phần đã phát hành và sự tán thành của từ hai phần ba quyền biểu quyết của cổ đông tham dự trở lên. Điều lệ công ty có thể quy định điều kiện cao hơn. Đăng ký giải thể phải được nộp trong vòng 15 ngày kể từ khi giải thể.
Có thể tạm ngừng kinh doanh thay vì giải thể ngay hay không?
Công ty tạm ngừng kinh doanh (停業) từ một tháng trở lên phải nộp đăng ký tạm ngừng kinh doanh trước khi tạm ngừng hoặc trong vòng 15 ngày (trừ trường hợp đã khai báo và được cơ quan thuế ghi nhận theo Luật Thuế doanh thu — điểm loại trừ tại Điều 3 khoản 1 Quy tắc đăng ký công ty) kể từ ngày bắt đầu tạm ngừng, và mỗi lần tạm ngừng không được quá một năm. Tuy nhiên, trong năm tạm ngừng vẫn có nghĩa vụ kê khai quyết toán thuế thu nhập hằng năm (結算申報), nên không phải mọi nghĩa vụ kê khai thuế đều được miễn. Quý vị phải xác nhận riêng từng nghĩa vụ theo sắc thuế, tài sản đang nắm giữ, người lao động và các tình tiết khác.