Cơ bản về thành lập công ty tại Đài Loan: công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện, thủ tục và giấy phép làm việc
← Back to columnsLegal Information

Cơ bản về thành lập công ty tại Đài Loan: công ty con, chi nhánh, văn phòng đại diện, thủ tục và giấy phép làm việc

Attorney Wei Tseng14 phút đọc

Doanh nghiệp Việt Nam và các cá nhân kinh doanh người Việt tiến vào thị trường Đài Loan theo nhiều cách khác nhau, tùy theo nội dung hoạt động như sản xuất, phân phối, công nghệ thông tin và truyền thông hay dịch vụ chuyên môn. Tuy nhiên, dù cùng đặt mục tiêu bắt đầu kinh doanh tại Đài Loan, quan hệ pháp luật cần chuẩn bị vẫn khác nhau tùy theo việc quý vị ký hợp đồng gì với ai, thu lợi nhuận thông qua tổ chức nào, và ai là người trực tiếp thực hiện công việc tại chỗ.

Đặc biệt, thành lập công ty, đầu tư nước ngoài, tài khoản ngân hàng, thuế, địa điểm kinh doanh, giấy phép làm việc và thủ tục cư trú tuy liên quan với nhau nhưng không phải là cùng một thủ tục. Hoàn tất đăng ký thành lập công ty (公司設立登記) không có nghĩa là việc thẩm định vốn đầu tư hay các giấy phép theo ngành nghề đã xong hết, cũng không có nghĩa là cổ đông hay người quản lý được phép làm việc ngay tại Đài Loan.

Vì vậy, ngay từ đầu quý vị nên xem xét đồng thời mô hình kinh doanh, nơi đặt trụ sở của nhà đầu tư và của trụ sở chính, các giao dịch dự kiến, dòng tiền, bố trí nhân sự và địa điểm kinh doanh. Bài viết này trước hết phân biệt các hình thức hiện diện tại Đài Loan, sau đó lần lượt trình bày trình tự chung khi thành lập công ty con, những nội dung cần xác nhận trước về ngành nghề và địa điểm, các vấn đề về làm việc, cư trú và vốn đối với người nước ngoài, cùng những sắc thuế chính.

1. Hình thức hiện diện tại Đài Loan: công ty con, chi nhánh và văn phòng đại diện

Công ty con (子公司) tại Đài Loan (công ty trách nhiệm hữu hạn (有限公司) hoặc công ty cổ phần (股份有限公司)) là một pháp nhân độc lập theo pháp luật Đài Loan. Chi nhánh Đài Loan (分公司) của một công ty nước ngoài không có tư cách pháp nhân độc lập, mà hoạt động kinh doanh tại Đài Loan với tư cách là một bộ phận của công ty nước ngoài đó. Văn phòng đại diện (代表人辦事處) không phải là cơ sở kinh doanh thực hiện hoạt động sinh lợi; phạm vi hoạt động của văn phòng đại diện bị giới hạn ở việc thực hiện hành vi pháp lý và công việc liên lạc cho công ty nước ngoài. Trách nhiệm, nghĩa vụ thuế, các loại giấy phép và điều kiện tham gia mua sắm công vẫn phải được xác nhận riêng theo từng hình thức tổ chức và từng vụ việc cụ thể.

Công ty con tại Đài Loan là pháp nhân độc lập, tách biệt với trụ sở chính, có thể nhân danh chính mình ký kết hợp đồng và là chủ thể của quyền và nghĩa vụ. Khi lựa chọn giữa công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần, quý vị cần cân nhắc cơ cấu phần vốn góp (出資額) hoặc cổ phần, thành phần các cơ quan của công ty, cách thức ra quyết định và kế hoạch huy động vốn. Không thể chỉ vì có tư cách pháp nhân độc lập mà cho rằng mọi trách nhiệm luôn giới hạn trong phạm vi công ty con; các quan hệ riêng lẻ như bảo lãnh, bảo đảm, hợp đồng với công ty mẹ hay trách nhiệm của thành viên hội đồng quản trị hoặc người quản trị (董事) cũng phải được xem xét cùng lúc.

Chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài là tổ chức để công ty nước ngoài đó tiến hành hoạt động kinh doanh tại Đài Loan. Bản thân chi nhánh không có cổ đông riêng, và vì không phải là một pháp nhân riêng biệt mà là một bộ phận của trụ sở chính (本公司), nên trụ sở chính phải gánh chịu các khoản nợ và trách nhiệm của chi nhánh. Không được mặc định rằng việc chuyển tiền giữa trụ sở chính và chi nhánh Đài Loan, việc chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, cách hạch toán kế toán và cách xử lý về thuế đều giống với cơ cấu chia cổ tức của công ty con.

Văn phòng đại diện là đầu mối hoạt động trong phạm vi được phép, như khảo sát thị trường, liên lạc, hỗ trợ đàm phán hoặc thực hiện hành vi pháp lý cho công ty nước ngoài. Văn phòng đại diện không được thực hiện hoạt động kinh doanh như bán hàng hay cung cấp dịch vụ tại Đài Loan. Nếu công việc trên thực tế đã mở rộng sang nhận đơn hàng, thu tiền hàng hoặc cung cấp dịch vụ lặp đi lặp lại, thì không nên chỉ nhìn vào tên gọi văn phòng đại diện, mà phải xem xét lại liệu có cần thành lập công ty con hay chi nhánh hay không.

Rốt cuộc, khi so sánh các hình thức tổ chức, ngoài phạm vi trách nhiệm, quý vị còn phải xem xét đồng thời cơ cấu vốn, việc phân chia và chuyển lợi nhuận, nghĩa vụ thuế, giấy phép theo ngành nghề, quan hệ lao động và điều kiện tham gia mua sắm công. Nếu một gói thầu hoặc một loại giấy phép cụ thể có yêu cầu về pháp nhân Đài Loan, về mức vốn, về thành tích hoặc về đăng ký, thì không được chỉ dựa vào tên gọi của tổ chức để kết luận có được tham gia hay không, mà phải kiểm tra quy định pháp luật và thông báo liên quan.

Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc (台韓所得稅協定) đã có hiệu lực từ ngày 27 tháng 12 năm 2023 và được áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2024; đây là hiệp định giữa Đài Loan và Hàn Quốc, và phần nội dung về hiệp định trong bài chỉ áp dụng cho các trường hợp đáp ứng điều kiện áp dụng của hiệp định. Khi đáp ứng các điều kiện áp dụng của hiệp định, thuế suất trần tại nước nguồn đối với cổ tức, lãi và tiền bản quyền (royalty) đều là 10%. Lợi nhuận kinh doanh về nguyên tắc do phía nơi cư trú đánh thuế, trừ những trường hợp như có cơ sở thường trú (PE, 常設機構) theo hiệp định tại lãnh thổ bên kia, nhưng trước hết vẫn phải xác nhận hình thức thực hiện công việc trên thực tế.

Cơ sở thường trú theo hiệp định có thể bao gồm cơ sở cố định như nơi quản lý, chi nhánh, văn phòng; công trình xây dựng kéo dài quá 6 tháng; hoạt động cung cấp dịch vụ có tổng số ngày vượt quá 183 ngày trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng nào; và đại lý thường xuyên thực hiện quyền ký kết hợp đồng. Bốn loại này có điều kiện áp dụng khác nhau, và nếu đã có địa điểm cố định hoặc có hoạt động của đại lý thì phải xem xét riêng, không phụ thuộc vào số ngày cung cấp dịch vụ. Do đó, không được chỉ dựa vào một con số 183 ngày để phán đoán cơ sở thường trú có hình thành hay không, hoặc lợi nhuận kinh doanh có bị đánh thuế hay không.

2. Các thủ tục chính khi thành lập công ty con tại Đài Loan

Việc thành lập công ty con tại Đài Loan thường bắt đầu từ khâu kiểm tra trước tên công ty bằng tiếng Trung và ngành nghề kinh doanh (預查), tiếp đó là thẩm định đầu tư nước ngoài, mở tài khoản và chuyển vốn, thẩm định xác nhận số vốn đầu tư (投資額審定), rồi đến đăng ký thành lập công ty và đăng ký thuế (稅籍登記). Danh sách dưới đây là bản tóm lược để hình dung toàn bộ tiến trình, chứ không có nghĩa là mọi trường hợp đều áp dụng cùng một trình tự cố định hay cùng một khoảng thời gian.

  1. Kiểm tra trước tên công ty bằng tiếng Trung và ngành nghề kinh doanh

  2. Công chứng, chứng nhận các giấy tờ nước ngoài như giấy ủy quyền, và khi cần thiết là xác thực tại cơ quan đại diện của Đài Loan ở nước ngoài

  3. Nộp đơn xin đầu tư nước ngoài lên Cục Thẩm định Đầu tư, Bộ Kinh tế (經濟部投資審議司) (khi thuộc trường hợp phải nộp)

  4. Mở tài khoản văn phòng trù bị của công ty (公司籌備處帳戶)

  5. Chuyển vốn đầu tư từ nước ngoài vào Đài Loan

  6. Thẩm định xác nhận số vốn đầu tư

  7. Đăng ký thành lập công ty

  8. Đăng ký thuế

  9. Chuyển tài khoản văn phòng trù bị thành tài khoản công ty chính thức

  10. Các thủ tục bổ sung như đăng ký doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giấy phép theo ngành nghề, giấy phép làm việc và cư trú (khi thuộc trường hợp phải làm)

Kiểm tra trước tên công ty bằng tiếng Trung và ngành nghề kinh doanh là bước xác nhận tên dự định sử dụng và ngành nghề dự kiến trước khi đăng ký. Việc vượt qua bước kiểm tra trước này không có nghĩa là quý vị đã có giấy phép riêng mà ngành nghề đó đòi hỏi, cũng không có nghĩa là có thể kinh doanh ngay tại địa điểm dự kiến. Trường hợp phải nộp đơn xin đầu tư nước ngoài, quý vị cần bảo đảm nhà đầu tư, số vốn đầu tư, đối tượng góp vốn và kế hoạch kinh doanh khớp với hồ sơ thẩm định.

Các giấy tờ được lập ở nước ngoài như giấy ủy quyền, giấy chứng nhận pháp nhân còn tồn tại, tài liệu xác nhận quyền đại diện có thể phải qua công chứng, chứng nhận hoặc xác thực tại cơ quan đại diện của Đài Loan ở nước ngoài, tùy theo nơi phát hành và tính chất của giấy tờ. Quý vị cũng phải kiểm tra xem bản dịch, cách ghi tên người có quyền ký và tên pháp nhân có khớp với đơn đăng ký hay không. Vì hồ sơ cần chuẩn bị có thể khác nhau tùy theo quốc tịch của nhà đầu tư và tùy nhà đầu tư là cá nhân hay pháp nhân, nên sắp xếp trước thời hạn hiệu lực và lộ trình chứng nhận trước khi xin cấp giấy tờ sẽ hiệu quả hơn.

Ở bước mở tài khoản văn phòng trù bị và chuyển vốn đầu tư, ngân hàng có thể xác minh chủ sở hữu hưởng lợi (實質受益人) và nguồn tiền như một phần của quy trình nhận biết khách hàng. Nếu người chuyển tiền, mục đích chuyển tiền, nội dung đã được phê duyệt đầu tư và tài khoản nhận tiền không khớp với nhau, quý vị có thể phải giải trình bổ sung hoặc bổ sung hồ sơ. Sau khi chuyển tiền, cần trải qua thủ tục thẩm định xác nhận đối với số vốn đầu tư thực tế, rồi tiến hành đăng ký thành lập công ty và đăng ký thuế, sau đó chuyển tài khoản trù bị thành tài khoản chính thức theo quy trình của ngân hàng.

Trình tự, mức độ cần thiết và thời gian của các thủ tục thay đổi tùy theo hình thức tổ chức, số vốn đầu tư, ngành nghề, nội dung thẩm định, tiến độ thủ tục của ngân hàng và việc có phải bổ sung hồ sơ hay không. Cũng có những thủ tục chỉ tiến hành sau khi đã thành lập công ty, như đăng ký doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giấy phép liên quan đến nhà máy, sản phẩm hoặc ngành nghề chuyên môn, đơn xin giấy phép làm việc và cư trú cho người nước ngoài. Khi ấn định ngày ký hợp đồng hoặc ngày bắt đầu kinh doanh, quý vị phải tính đến không chỉ việc đăng ký công ty mà cả thời điểm hoàn tất những thủ tục tiếp theo này.

3. Xác nhận trước về ngành nghề và địa điểm kinh doanh

Đầu tư nước ngoài có thể thực hiện trong nhiều ngành nghề, nhưng các ngành bị cấm hoặc bị hạn chế đầu tư, điều kiện về tư cách và chứng chỉ hành nghề, giới hạn về địa điểm kinh doanh và giấy phép theo từng ngành nghề vẫn phải được xác nhận riêng. Trong những lĩnh vực có thể phát sinh vấn đề về giấy phép, đăng ký hoặc điều kiện hành nghề do cơ quan giám sát quản lý, như thiết bị y tế, rượu, lữ hành, xây dựng hay dịch vụ chuyên môn, quý vị phải xem xét các quy định áp dụng dựa trên hàng hóa và dịch vụ sẽ thực sự cung cấp cùng cấu trúc giao dịch.

Việc có thể ghi một ngành nghề vào đăng ký công ty tự nó không có nghĩa là có thể bắt đầu hoạt động kinh doanh đó ngay lập tức. Kiểm tra trước tên công ty và ngành nghề, đăng ký thành lập công ty, đăng ký thuế và giấy phép theo ngành nghề là những thủ tục có mục đích khác nhau. Khi phương thức vận hành thay đổi, chẳng hạn bán hàng trực tuyến và cửa hàng thực tế, nhập khẩu và phân phối trong nước, tự cung cấp dịch vụ và làm dịch vụ trung gian, thì các loại đăng ký cần có và trách nhiệm phát sinh cũng có thể khác nhau.

Địa chỉ trụ sở của công ty không đơn thuần là nơi nhận thư từ, mà là nền tảng của việc đăng ký, của nghĩa vụ thuế và của hoạt động kinh doanh trên thực tế. Trước khi ký hợp đồng thuê, quý vị phải xác nhận phân khu sử dụng đất (土地使用分區), quản lý xây dựng, điều kiện thuê và mức độ phù hợp cho việc đăng ký thuế, xét theo địa chỉ dự kiến và ngành nghề kinh doanh. Nếu mục đích sử dụng được phép của công trình (建物用途) hoặc quy chế quản lý tòa nhà không phù hợp với hoạt động kinh doanh thực tế, hoặc nếu không xin được văn bản đồng ý cần thiết của bên cho thuê, thì ngay cả sau khi đã đăng ký, quý vị vẫn có thể phải đổi địa điểm hoặc làm thêm thủ tục.

Tại thành phố Đài Bắc có cơ chế tra cứu trước địa điểm kinh doanh (營業場所預先查詢) áp dụng cho những hồ sơ đăng ký công ty và đăng ký thương mại (公司及商業登記) thuộc phạm vi áp dụng. Tuy nhiên, chỉ riêng kết quả tra cứu này không có nghĩa là các giấy phép khác hay điều kiện theo pháp luật chuyên ngành cũng đã được đáp ứng. Đây là cơ chế của riêng thành phố Đài Bắc chứ không phải cơ chế áp dụng trên toàn Đài Loan, nên khi đặt trụ sở tại địa phương khác, quý vị phải xác nhận thủ tục của chính quyền địa phương và cơ quan có thẩm quyền nơi đó, và nên xác nhận bằng văn bản mức độ phù hợp của địa điểm trước khi ký hợp đồng thuê dài hạn hoặc đầu tư vào cơ sở vật chất.

4. Giấy phép làm việc, tư cách cư trú và vốn công ty

Người nộp hồ sơ thành lập công ty, cổ đông của công ty, người thực tế thực hiện công việc tại Đài Loan và người xin cư trú có thể là cùng một người, nhưng về mặt pháp lý phải được nhìn nhận tách biệt. Bởi vì việc phê duyệt đầu tư thẩm định dòng vốn đưa vào, giấy phép làm việc thẩm định việc thực hiện công việc của người nước ngoài, còn thẻ cư trú thẩm định mục đích và thời hạn cư trú.

Thành lập công ty và giấy phép làm việc, tư cách cư trú

Việc thành lập công ty tự nó không đương nhiên mang lại giấy phép làm việc hay tư cách cư trú. Người nước ngoài muốn quản lý, điều hành công ty tại Đài Loan vẫn phải đáp ứng các điều kiện của giấy phép làm việc liên quan đến chức vụ, quan hệ góp vốn và thành tích kinh doanh của người sử dụng lao động; sau khi được cấp giấy phép, còn phải nộp hồ sơ riêng để xin Thẻ cư trú ngoại kiều (ARC, 外僑居留證) phù hợp với mục đích cư trú.

Người đang là học sinh, sinh viên cũng có thể nộp đơn đầu tư và thành lập công ty. Tuy nhiên, việc trở thành nhà đầu tư hay cổ đông không có nghĩa là tư cách cư trú hiện tại cho phép quý vị làm việc hay điều hành công ty tại Đài Loan. Nếu trên thực tế quý vị ký kết hợp đồng, chỉ đạo nhân viên hoặc phụ trách công việc điều hành hằng ngày, thì trước khi bắt đầu công việc phải xác nhận đối tượng và điều kiện áp dụng của giấy phép làm việc.

Khi thẩm định giấy phép làm việc, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét tổng hợp chức vụ và trình độ của người nộp đơn, vai trò sẽ đảm nhiệm trong công ty, quan hệ đầu tư, thành tích kinh doanh của người sử dụng lao động và các tài liệu đã nộp. Ngay cả khi đã được cấp giấy phép làm việc, thẻ cư trú vẫn phải xin riêng theo mục đích cư trú; thời hạn hiệu lực và điều kiện gia hạn của từng loại giấy phép cũng phải được xác nhận theo chính quyết định đó và theo pháp luật hiện hành tại thời điểm đó.

Vốn công ty và giấy phép làm việc cho người quản lý mang quốc tịch nước ngoài

Bản thân việc thành lập công ty không có mức vốn tối thiểu theo luật định áp dụng chung cho mọi trường hợp. Tuy nhiên, mức vốn tối thiểu theo từng ngành nghề, tính hợp lý của kế hoạch kinh doanh, khâu thẩm định của ngân hàng và điều kiện đối với người sử dụng lao động trong thủ tục giấy phép làm việc vẫn phải được xác nhận riêng. Giấy phép làm việc dành cho người quản lý mang quốc tịch nước ngoài của doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hoa kiều hoặc người nước ngoài (僑外投資事業) áp dụng cho người quản lý (經理人) của công ty mà tổng số cổ phần hoặc phần vốn góp do Hoa kiều hoặc người nước ngoài nắm giữ vượt quá một phần ba tổng số cổ phần đã phát hành hoặc tổng số vốn, cho người quản lý chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài, và cho người đại diện của văn phòng đại diện. Trong số đó, nếu công ty hoặc chi nhánh với tư cách người sử dụng lao động được thành lập chưa đủ một năm, thì về nguyên tắc phải đáp ứng một trong các điều kiện sau: vốn thực góp hoặc vốn hoạt động tại Đài Loan từ 500.000 Đài tệ mới (新臺幣, TWD) trở lên, doanh thu từ 3.000.000 TWD trở lên, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ 500.000 đô la Mỹ (USD) trở lên, hoặc hoa hồng đại lý từ 200.000 USD trở lên. Nếu đã thành lập từ một năm trở lên, thì về nguyên tắc phải đáp ứng một trong các điều kiện sau, tính theo năm gần nhất hoặc mức bình quân ba năm gần nhất tại Đài Loan: doanh thu từ 3.000.000 TWD trở lên, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ 500.000 USD trở lên, hoặc hoa hồng đại lý từ 200.000 USD trở lên. Văn phòng đại diện đã thành lập từ một năm trở lên phải có thành tích hoạt động tại Đài Loan (thành lập chưa đủ một năm thì được miễn yêu cầu này). Trường hợp có đóng góp thực chất cho sự phát triển kinh tế của Đài Loan hoặc có hoàn cảnh đặc biệt thì vẫn có thể được công nhận riêng theo từng vụ việc.

Các con số nêu trên là điều kiện đối với người sử dụng lao động để xin giấy phép làm việc cho người quản lý mang quốc tịch nước ngoài, chứ không phải mức vốn tối thiểu áp dụng chung cho việc thành lập công ty. Pháp luật chuyên ngành có thể quy định thêm về mức vốn hoặc tiền ký quỹ, và ngân hàng cũng có thể thẩm định độc lập kế hoạch kinh doanh và rủi ro giao dịch. Ngoài ra, đáp ứng các tiêu chuẩn nêu trên cũng không có nghĩa là giấy phép làm việc sẽ đương nhiên được cấp; những điều kiện khác như chức vụ thực tế, kinh nghiệm của người nộp đơn và hồ sơ đã nộp cũng được thẩm định cùng lúc.

Vợ hoặc chồng và con chưa thành niên của người nước ngoài đã có thẻ cư trú trên cơ sở giấy phép làm việc hoặc căn cứ tương tự có thể nộp đơn riêng xin cư trú theo thân nhân (依親居留) nếu đáp ứng điều kiện. Khi đó có thể cần giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ cha mẹ và con, việc nuôi dưỡng và mục đích cư trú; tư cách cư trú của người thân không được cấp một cách tự động.

Người nước ngoài thông thường muốn xin thường trú / cư trú vĩnh viễn (永久居留) thì về nguyên tắc phải cư trú hợp pháp liên tục 5 năm tại Đài Loan và mỗi năm lưu trú từ 183 ngày trở lên, cùng những điều kiện khác. Nhân lực chuyên môn nước ngoài có thể được áp dụng cách tính khác, và các điều kiện luật định khác như phẩm hạnh, tài sản hoặc kỹ năng cũng được thẩm định. Những khoảng thời gian lưu trú bị loại trừ khi tính điều kiện thường trú và các điều kiện tại thời điểm nộp đơn cũng phải được xác nhận riêng cho từng trường hợp; việc đã giữ giấy phép làm việc hoặc thẻ cư trú đủ 5 năm tự nó không đương nhiên dẫn đến thường trú.

5. Thuế và Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc

Thuế kinh doanh (營業稅) của Đài Loan có thuế suất phổ thông là 5% và thông thường được kê khai hai tháng một lần. Thuế thu nhập doanh nghiệp (營利事業所得稅) có thuế suất phổ thông là 20%, nhưng số thuế thực tế còn tùy thuộc vào thu nhập chịu thuế và quy định áp dụng. Theo pháp luật trong nước của Đài Loan, thuế suất khấu trừ tại nguồn đối với cổ tức trả cho người không cư trú là 21%. Đối với cổ tức đáp ứng điều kiện và thủ tục áp dụng Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc thì áp dụng thuế suất trần 10%. Việc kê khai và khấu trừ cụ thể phải được xử lý sau khi xác nhận tình trạng cư trú thuế, chủ sở hữu hưởng lợi (受益所有人), loại thu nhập và các tài liệu áp dụng hiệp định.

Thuế kinh doanh và thuế thu nhập doanh nghiệp có đối tượng chịu thuế và cách kê khai khác nhau, nên phải phân biệt loại thuế đánh trên doanh thu với loại thuế đánh trên thu nhập chịu thuế. Khi chi trả cổ tức, lãi, tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ cho cổ đông ở nước ngoài hay công ty liên kết, quý vị phải xem xét trước tính chất của khoản chi trả, địa vị của bên nhận, quy định khấu trừ tại nguồn theo pháp luật trong nước và khả năng áp dụng hiệp định thuế thu nhập.

Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc, như đã nêu chỉ áp dụng cho các trường hợp đáp ứng điều kiện áp dụng của hiệp định, có hiệu lực từ ngày 27 tháng 12 năm 2023 và được áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2024; đối với lãi và tiền bản quyền đáp ứng điều kiện, thuế suất trần tại nước nguồn cũng là 10%. Khi xem xét quyền đánh thuế đối với lợi nhuận kinh doanh, phải xem xét cả bốn loại cơ sở thường trú đã trình bày ở trên. Không chỉ số ngày cung cấp dịch vụ, mà cả địa điểm cố định, thời gian thi công công trình, quyền ký kết hợp đồng của đại lý và hoạt động thực tế của đại lý cũng phải được xác nhận cùng lúc.

Thuế suất giới hạn theo hiệp định không tự động được áp dụng chỉ vì hiệp định tồn tại. Phải xác nhận người nộp thuế có phải là đối tượng cư trú theo hiệp định hay không, có phải là chủ sở hữu hưởng lợi hay không, tính chất pháp lý của khoản thu nhập, cùng giấy chứng nhận cư trú thuế và các giấy tờ phải nộp. Quý vị nên quản lý sao cho cấu trúc giao dịch, hợp đồng, hóa đơn, công việc thực tế và dòng tiền khớp với nhau, đồng thời kiểm tra riêng thời hạn kê khai và việc lưu giữ chứng từ.

Tài liệu chính thức

Quý vị có thể tìm hiểu phạm vi công việc liên quan tại Dịch vụ đầu tư và thành lập công ty tại Đài Loan, và xem kinh nghiệm cùng các ngôn ngữ mà luật sư phụ trách sử dụng tại Hồ sơ luật sư Wei Tseng. Với thắc mắc về một vụ việc cụ thể, xin quý vị sử dụng mục liên hệ.

Bài viết này là tài liệu mang tính giáo dục nhằm giải thích một cách khái quát về việc thành lập công ty tại Đài Loan và các chế độ liên quan, không phải là ý kiến pháp lý hay ý kiến về thuế cho một vụ việc cụ thể. Vì thủ tục cần thiết và kết quả có thể thay đổi tùy theo cấu trúc đầu tư, ngành nghề, quốc tịch và tư cách cư trú của người nộp đơn, cũng như thực tiễn mới nhất của cơ quan có thẩm quyền, xin quý vị xác nhận tài liệu chính thức mới nhất và hoàn cảnh cụ thể của mình trước khi tiến hành đầu tư, ký kết hợp đồng hoặc tuyển dụng.

Luật sư Wei Tseng (曾雋崴)

Frequently Asked Questions

Khi thành lập doanh nghiệp tại Đài Loan, công ty con, chi nhánh và văn phòng đại diện khác nhau như thế nào?
Công ty con (子公司) tại Đài Loan (công ty trách nhiệm hữu hạn (有限公司) hoặc công ty cổ phần (股份有限公司)) là một pháp nhân độc lập theo pháp luật Đài Loan. Chi nhánh Đài Loan (分公司) của một công ty nước ngoài không có tư cách pháp nhân độc lập, mà hoạt động kinh doanh tại Đài Loan với tư cách là một bộ phận của công ty nước ngoài đó. Văn phòng đại diện (代表人辦事處) không phải là cơ sở kinh doanh thực hiện hoạt động sinh lợi; phạm vi hoạt động của văn phòng đại diện bị giới hạn ở việc thực hiện hành vi pháp lý và công việc liên lạc cho công ty nước ngoài. Trách nhiệm, nghĩa vụ thuế, các loại giấy phép và điều kiện tham gia mua sắm công vẫn phải được xác nhận riêng theo từng hình thức tổ chức và từng vụ việc cụ thể.
Chỉ cần thành lập công ty là có được giấy phép làm việc hoặc tư cách cư trú tại Đài Loan hay không?
Việc thành lập công ty tự nó không đương nhiên mang lại giấy phép làm việc (工作許可) hay tư cách cư trú. Người nước ngoài muốn quản lý, điều hành công ty tại Đài Loan vẫn phải đáp ứng các điều kiện của giấy phép làm việc liên quan đến chức vụ, quan hệ góp vốn và thành tích kinh doanh của người sử dụng lao động; sau khi được cấp giấy phép, còn phải nộp hồ sơ riêng để xin Thẻ cư trú ngoại kiều (ARC, 外僑居留證) phù hợp với mục đích cư trú.
Để xin giấy phép làm việc và Thẻ cư trú ngoại kiều (ARC) có cần mức vốn tối thiểu không?
Bản thân việc thành lập công ty không có mức vốn tối thiểu theo luật định áp dụng chung cho mọi trường hợp. Tuy nhiên, mức vốn tối thiểu theo từng ngành nghề, tính hợp lý của kế hoạch kinh doanh, khâu thẩm định của ngân hàng và điều kiện đối với người sử dụng lao động trong thủ tục giấy phép làm việc vẫn phải được xác nhận riêng. Giấy phép làm việc dành cho người quản lý mang quốc tịch nước ngoài của doanh nghiệp có vốn đầu tư của Hoa kiều hoặc người nước ngoài (僑外投資事業) áp dụng cho người quản lý (經理人) của công ty mà tổng số cổ phần hoặc phần vốn góp do Hoa kiều hoặc người nước ngoài nắm giữ vượt quá một phần ba tổng số cổ phần đã phát hành hoặc tổng số vốn, cho người quản lý chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài, và cho người đại diện của văn phòng đại diện. Trong số đó, nếu công ty hoặc chi nhánh với tư cách người sử dụng lao động được thành lập chưa đủ một năm, thì về nguyên tắc phải đáp ứng một trong các điều kiện sau: vốn thực góp hoặc vốn hoạt động tại Đài Loan từ 500.000 Đài tệ mới (新臺幣, TWD) trở lên, doanh thu từ 3.000.000 TWD trở lên, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ 500.000 đô la Mỹ (USD) trở lên, hoặc hoa hồng đại lý từ 200.000 USD trở lên. Nếu đã thành lập từ một năm trở lên, thì về nguyên tắc phải đáp ứng một trong các điều kiện sau, tính theo năm gần nhất hoặc mức bình quân ba năm gần nhất tại Đài Loan: doanh thu từ 3.000.000 TWD trở lên, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu từ 500.000 USD trở lên, hoặc hoa hồng đại lý từ 200.000 USD trở lên. Văn phòng đại diện đã thành lập từ một năm trở lên phải có thành tích hoạt động tại Đài Loan (thành lập chưa đủ một năm thì được miễn yêu cầu này). Trường hợp có đóng góp thực chất cho sự phát triển kinh tế của Đài Loan hoặc có hoàn cảnh đặc biệt thì vẫn có thể được công nhận riêng theo từng vụ việc.