Khi một thành viên trong gia đình qua đời, không phải chỉ một thủ tục duy nhất được bắt đầu. Quý vị phải xem xét riêng từng vấn đề: ai là người thừa kế, những tài sản và khoản nợ nào thuộc đối tượng của việc thừa kế, vợ hoặc chồng còn sống có quyền riêng nào theo chế độ tài sản vợ chồng (夫妻財產制) hay không, ai thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên (未成年子女權利義務之行使或負擔), có cần đến chế độ giám hộ người chưa thành niên (未成年人監護) hay không, và bảo vệ phần tài sản đã thuộc về con bằng cách nào. Các vấn đề này có thể tác động qua lại với nhau, nhưng căn cứ pháp lý và thứ tự phán đoán của chúng không giống nhau.
Đặc biệt, quý vị phải phân biệt phần thừa kế theo pháp luật (應繼分) với quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại của vợ chồng (剩餘財產差額分配), phân biệt quyền và nghĩa vụ đối với con chưa thành niên với chế độ giám hộ người chưa thành niên, và phân biệt quyền đại diện theo pháp luật (法定代理) với quyền sở hữu đối với tài sản. Nếu đem kết luận của một mục áp dụng nguyên xi cho mục khác, quý vị có thể hiểu sai về chủ thể của quyền, về đối tượng được đưa vào tính toán hoặc về thủ tục tòa án cần thiết. Nội dung dưới đây sắp xếp thứ tự kiểm tra thông thường, dựa trên Bộ luật Dân sự (民法) Đài Loan và các tài liệu chính thức về thủ tục.
1. Người thừa kế theo pháp luật và phần thừa kế theo pháp luật
Theo Điều 1138 và Điều 1144 Bộ luật Dân sự (民法) Đài Loan, vợ hoặc chồng còn sống thừa kế chung với những người thừa kế thuộc hàng đang được áp dụng, còn con cháu huyết thống trực hệ (直系血親卑親屬) là hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật. Nếu không có di chúc hợp lệ, những người thừa kế có liên quan chỉ gồm vợ hoặc chồng cùng hai người con, đồng thời không tồn tại việc từ chối nhận di sản (拋棄繼承), việc mất quyền thừa kế (喪失繼承權), việc thừa kế thế vị (代位繼承) hay bất kỳ tình tiết nào khác đủ làm thay đổi kết luận, thì thông thường ba người mỗi người có một phần ba. Đây chỉ là giả định nhằm giải thích quy tắc, không phải kết luận cho một vụ việc thừa kế cụ thể nào.
Điều 1138 Bộ luật Dân sự ấn định thứ tự thừa kế theo pháp luật (法定繼承順位) của những người thừa kế ngoài vợ hoặc chồng theo trình tự: con cháu huyết thống trực hệ, cha mẹ, anh chị em ruột, ông bà. Khi còn người thừa kế ở hàng trước, về nguyên tắc người ở hàng sau không được thừa kế. Ngay trong cùng một hàng, quý vị vẫn phải xác nhận thời điểm qua đời, quan hệ cha mẹ và con, quan hệ nuôi con nuôi cùng việc có phát sinh thừa kế thế vị hay không; vì vậy, việc thu thập trước các tài liệu về quan hệ thân thuộc là điều quan trọng.
Vợ hoặc chồng còn sống không phải là người thừa kế ở hàng sau thuộc các hàng thừa kế thân thuộc do Điều 1138 Bộ luật Dân sự ấn định, mà theo Điều 1144 Bộ luật Dân sự sẽ thừa kế chung với những người thừa kế thuộc hàng thực tế được áp dụng. Tuy nhiên, tỷ lệ cụ thể của việc thừa kế chung có thể khác nhau tùy theo việc vợ hoặc chồng thừa kế chung với hàng nào. Việc có tồn tại căn cứ làm mất quyền thừa kế hay không, việc đã có sự từ chối nhận di sản hợp pháp hay chưa, và việc có thành lập thừa kế thế vị thay cho người con cháu huyết thống trực hệ đã qua đời trước hay không, cũng đều ảnh hưởng đến kết quả.
Việc thừa kế được mở ra không có nghĩa là mỗi người thừa kế lập tức sở hữu riêng một khoản tiền gửi hay một bất động sản cụ thể. Trong quan hệ thừa kế chung, quý vị phải xác nhận phạm vi di sản, chỉnh lý các khoản nợ và chi phí, rồi thông qua thỏa thuận phân chia hoặc thủ tục tại tòa án mới có thể ấn định việc quy thuộc của từng tài sản riêng lẻ. Vì vậy, phải phân biệt phần thừa kế theo pháp luật mang tính trừu tượng với việc quy thuộc cuối cùng của một tài sản cụ thể.
2. Di chúc và việc xác định phạm vi di sản
Một bản di chúc hợp lệ có thể ấn định cách phân chia khác với việc thừa kế theo pháp luật. Tuy nhiên, quý vị phải xác nhận phương thức luật định của di chúc, năng lực lập di chúc, cách giải thích và khả năng thi hành di chúc; đồng thời phải xem xét cả những giới hạn của các quy định mang tính bắt buộc, trong đó có phần di sản bắt buộc (特留分). Chỉ riêng việc có một bản di chúc cũng không làm cho việc quy thuộc của toàn bộ di sản được xác định; ngược lại, nếu di chúc chỉ ghi một phần tài sản thì phần tài sản còn lại có thể chịu sự điều chỉnh của các quy tắc thừa kế theo pháp luật.
Trước khi tính phần thừa kế theo pháp luật, quý vị phải xác định bảng kê và tính chất pháp lý của di sản. Ngoài bất động sản, tiền gửi, chứng khoán, phần vốn trong doanh nghiệp, quyền đòi nợ và động sản, quý vị còn phải kiểm tra bằng tài liệu các khoản nợ của người để lại di sản (被繼承人), trách nhiệm bảo lãnh, các khoản thuế chưa nộp và chi phí liên quan đến tang lễ. Không nên chỉ dựa vào tên người đứng đăng ký hay tên chủ tài khoản để kết luận, mà phải điều tra cả quan hệ sở hữu trên thực chất, tỷ lệ phần quyền trong tài sản đứng tên chung, quyền của người thứ ba và việc xác lập các biện pháp bảo đảm.
Những khoản chi trả đã chỉ định riêng người thụ hưởng, như tiền bảo hiểm hay tiền hưu trí, có thể được xử lý theo cách khác với di sản, tùy theo hợp đồng và luật được áp dụng. Đối với tài sản tín thác (信託), quý vị phải xác nhận cấu trúc của hợp đồng tín thác và quyền hưởng lợi; còn việc tặng cho lúc còn sống hoặc việc chuyển dịch tài sản có thể liên quan đến vấn đề hoàn trả, tính gộp vào di sản hoặc phần di sản bắt buộc. Nếu có tài khoản hay bất động sản ở nước ngoài, quý vị phải xem xét đồng thời pháp luật nơi có tài sản và các quy tắc về luật áp dụng của Đài Loan.
Việc rà soát tài sản không chỉ là quá trình tìm ra các quyền, mà còn là quá trình nắm bắt đồng thời các khoản nợ và rủi ro về mặt thủ tục. Quý vị phải chỉnh lý theo cùng một ngày làm mốc các giấy xác nhận số dư của tổ chức tài chính, hồ sơ đăng ký bất động sản, tài liệu thuế, hợp đồng bảo hiểm, văn bản tín thác, sổ sách công ty cùng các giấy tờ vay nợ và bảo lãnh. Nếu chỉ tính một phần thừa kế nhất định trong khi tài liệu còn chưa đầy đủ, kết quả có thể chênh lệch so với di sản ròng thực tế có thể đem phân chia.
3. Quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại của vợ hoặc chồng
Không phải. Quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại của vợ chồng theo Điều 1030-1 Bộ luật Dân sự Đài Loan là quyền mà vợ hoặc chồng còn sống có thể yêu cầu riêng khi các điều kiện luật định được thỏa mãn, và phải được tính tách bạch với phần thừa kế theo pháp luật. Không phải mọi tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân đều đương nhiên thuộc đối tượng tính toán, và vợ hoặc chồng còn sống cũng không nhất thiết nhận được một nửa di sản. Quý vị phải xác nhận chế độ tài sản vợ chồng, nguyên nhân và thời điểm có được của từng tài sản, các khoản nợ cùng những mục bị loại trừ theo luật định, rồi mới phán đoán theo từng trường hợp cụ thể.
Quyền yêu cầu này là chế độ so sánh theo tiêu chuẩn luật định phần tài sản tăng thêm sau khi kết hôn của mỗi bên vợ chồng, tại thời điểm chế độ tài sản pháp định (法定財產制) chấm dứt. Nó khác với phần thừa kế theo pháp luật, thứ phát sinh do vợ hoặc chồng còn sống có tư cách người thừa kế, cả về căn cứ phát sinh, về bên đối lập lẫn về đối tượng tính toán. Nếu yêu cầu đó thành lập, có thể phát sinh vấn đề về trình tự: phản ánh kết quả của yêu cầu đó trước, rồi mới xác định phần tài sản còn lại của người để lại di sản là di sản.
Khi tính toán, quý vị không nên chỉ nhìn vào cách diễn đạt "tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân", mà phải xác nhận phạm vi được đưa vào và bị loại ra do Bộ luật Dân sự ấn định. Có thể tồn tại những mục bị loại trừ theo luật định, như tài sản có được do thừa kế hoặc do được tặng cho và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần (慰撫金); các khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân cũng phải được cân nhắc. Việc vợ chồng có thỏa thuận một chế độ tài sản khác hay không, thời điểm và nguyên nhân có được tài sản là gì, và ấn định thời điểm làm mốc để định giá tài sản ra sao, đều được phán đoán dựa trên tài liệu.
Điều 1030-1 Bộ luật Dân sự quy định rằng khi kết quả của việc phân chia bằng nhau là rõ ràng không công bằng, tòa án có thể điều chỉnh mức phân chia. Quý vị phải xem xét một cách cụ thể những yếu tố mà luật đòi hỏi, như thời gian hôn nhân, công việc nội trợ và việc chăm sóc con, mức đóng góp về kinh tế, hoàn cảnh nghề nghiệp, tình hình có được và quản lý tài sản. Do đó, không thể chỉ dựa vào việc so sánh tên người đứng đăng ký hay dựa vào thời gian hôn nhân để ấn định trước việc yêu cầu có thành lập hay không và số tiền là bao nhiêu.
4. Nghĩa vụ tài sản do thừa kế và việc từ chối nhận di sản
Theo Điều 1148 Bộ luật Dân sự Đài Loan, kể từ thời điểm việc thừa kế được mở ra, người thừa kế tiếp nhận một cách bao quát các quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại di sản, trừ những quyền và nghĩa vụ gắn liền riêng với người đó. Trách nhiệm đối với nghĩa vụ tài sản do thừa kế (繼承債務) về nguyên tắc chỉ giới hạn trong giá trị tài sản có được do thừa kế. Tuy nhiên, quý vị phải xác nhận đồng thời các thủ tục luật định và các trường hợp ngoại lệ có liên quan, như việc lập bảng kê di sản (遺產清冊), việc thông báo công khai cho chủ nợ và việc thanh toán, cùng việc bảo toàn di sản.
Người thừa kế muốn từ chối nhận di sản phải theo Điều 1174 Bộ luật Dân sự, trong vòng 3 tháng kể từ ngày biết mình được thừa kế, biểu thị ý chí đó bằng văn bản gửi tòa án có thẩm quyền. Không được coi rằng chỉ cần nói với người thân là mình sẽ không nhận, hoặc chỉ cần không sử dụng tài sản, thì việc từ chối nhận di sản theo phương thức luật định đã thành lập. Ảnh hưởng đối với người thừa kế ở hàng kế tiếp sau người từ chối hoặc đối với quan hệ thừa kế thế vị cũng phải được xác nhận dựa trên quan hệ thân thuộc và tình hình tiến hành thủ tục.
Trước khi định đoạt di sản hay thanh toán các khoản nợ, quý vị phải điều tra đồng thời tài sản có (積極財產) và tài sản nợ (消極財產). Hãy xác nhận sự tồn tại của chủ nợ, các quyền bảo đảm, nghĩa vụ bảo lãnh, các hợp đồng còn đang tiếp diễn và việc đã kê khai thuế hay chưa; nếu cần thì xem xét việc nộp bảng kê di sản và các thủ tục dành cho chủ nợ. Quý vị cũng phải tránh những tình tiết có thể ảnh hưởng đến giới hạn trách nhiệm mà luật ấn định, chẳng hạn hành vi giấu giếm tài sản hoặc bỏ sót tài sản khỏi bảng kê.
Hướng dẫn về quy trình nộp hồ sơ đối với vụ việc thừa kế trên Cổng thông tin Thuế vụ của Bộ Tài chính Đài Loan (財政部稅務入口網) đã được cập nhật ngày 25 tháng 6 năm 2026, trong đó nêu thời hạn 3 tháng thông thường của thủ tục tại tòa án về việc nộp bảng kê di sản và việc từ chối nhận di sản, cùng thời hạn 6 tháng thông thường của việc kê khai thuế thừa kế (遺產稅). Tuy nhiên, mốc khởi tính, việc gia hạn, các trường hợp ngoại lệ và thẩm quyền vẫn phải được xác nhận theo từng vụ việc, và quý vị không được dùng những con số đó để tính hạn chót cho trường hợp của riêng mình.
Việc kê khai thuế thừa kế, việc khai báo hộ tịch (戶籍), việc sang tên bất động sản và xe cộ, cùng thủ tục chi trả của tổ chức tài chính có thể khác nhau về cơ quan phụ trách và về giấy tờ phải nộp. Không được xem hồ sơ từ chối nhận di sản nộp cho tòa án và việc kê khai thuế thừa kế tại cơ quan thuế là cùng một thủ tục. Nhiều thời hạn có thể chạy song song, vì vậy thận trọng hơn cả là quản lý mốc khởi tính và chứng từ của từng thủ tục trên một bảng tiến độ riêng.
5. Quyền và nghĩa vụ đối với con chưa thành niên của người cha hoặc mẹ còn sống
Theo Điều 1089 Bộ luật Dân sự Đài Loan, khi một bên cha hoặc mẹ không thể thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên thì về nguyên tắc bên kia thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đó. Do đó, nếu người cha hoặc mẹ còn sống vẫn giữ việc thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên và không có bản án, quyết định nào của tòa án với nội dung trái ngược, thì thông thường người đó tiếp tục thực hiện và gánh vác các quyền, nghĩa vụ ấy. Tuy nhiên, tùy theo những tình tiết cụ thể như bản án, quyết định đã có, các căn cứ làm hạn chế hoặc đình chỉ quyền, nghĩa vụ đối với con, yếu tố nước ngoài và lợi ích tốt nhất của con chưa thành niên (子女最佳利益), vẫn có thể cần đến sự can thiệp của tòa án.
Quyền và nghĩa vụ đối với con chưa thành niên có thể bao gồm nhiều nội dung, như việc bảo hộ và giáo dưỡng con chưa thành niên, việc quyết định nơi ở của con, việc đại diện theo pháp luật và việc quản lý tài sản. Mỗi quyền năng đều phải được thực hiện theo hướng bảo vệ nhân cách và lợi ích tài sản của con, chứ không phải vì lợi ích riêng của cha mẹ. Mức độ xem xét đòi hỏi đối với phán đoán về việc chăm sóc thường ngày và đối với việc đại diện theo pháp luật trong những định đoạt tài sản quan trọng có thể khác nhau.
Quý vị không nên chỉ nhìn vào quan hệ gia đình trước và sau thời điểm qua đời, mà phải xác nhận các bản án, quyết định đã có về ly hôn hoặc về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con, cùng việc quyền đó có bị hạn chế hay đình chỉ hay không. Nếu có quyết định do tòa án nước ngoài đưa ra, thì việc công nhận và hiệu lực của quyết định đó tại Đài Loan, cũng như những thủ tục cần thiết ở quốc gia khác, đều thuộc phạm vi phải xem xét. Trong những giao dịch mà lợi ích của cha mẹ và của con đối lập nhau, quý vị phải xem xét riêng liệu việc đại diện theo pháp luật thông thường đã đủ hay chưa.
Quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên và việc thừa kế là hai vấn đề riêng biệt về mặt pháp lý. Dù người cha hoặc mẹ còn sống thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con, chủ sở hữu phần tài sản mà con được thừa kế vẫn là chính người con, và cha mẹ không được đối xử với phần tài sản đó như phần thừa kế của mình. Ngoài ra, ngay cả khi người cha hoặc mẹ còn sống không phải là người thừa kế thì địa vị về quyền, nghĩa vụ đối với con vẫn có thể tồn tại; còn khi người đó trở thành người thừa kế thì phải xác nhận kỹ lưỡng hơn khả năng xung đột lợi ích (利益衝突) giữa bản thân mình và con.
6. Việc chỉ định người giám hộ và sự can thiệp của tòa án
Chế độ giám hộ người chưa thành niên theo Điều 1091 Bộ luật Dân sự Đài Loan chỉ đặt ra khi người chưa thành niên không có cha mẹ, hoặc khi cả cha và mẹ đều không thể thực hiện, gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con. Không thể chỉ dựa vào việc một bên cha hoặc mẹ đã qua đời để kết luận ngay rằng chế độ giám hộ người chưa thành niên đã bắt đầu. Trước hết phải xác nhận tình trạng quyền, nghĩa vụ đối với con của người cha hoặc mẹ còn sống, các bản án, quyết định đã có, và việc người đó trên thực tế có thực hiện được quyền hay không.
Theo Điều 1093 Bộ luật Dân sự, người cha hoặc mẹ sau cùng thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên có thể chỉ định người giám hộ (監護人) của con bằng di chúc. Để quy định này được áp dụng, di chúc phải đáp ứng phương thức luật định, và người cha hoặc mẹ đứng ra chỉ định phải có quyền chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên. Ngay cả khi đã có nội dung chỉ định, quý vị vẫn phải xem xét đồng thời điều kiện để chế độ giám hộ bắt đầu, tư cách của người giám hộ và việc người đó có nhận nhiệm vụ hay không, việc khai báo với tòa án cùng các thủ tục giám sát khác.
Khi không có sự chỉ định hợp lệ bằng di chúc, hoặc khi người được chỉ định không thể đảm nhận nhiệm vụ, thì có thể đặt ra thứ tự luật định tại Điều 1094 Bộ luật Dân sự và các quy tắc về việc tòa án chỉ định người giám hộ tại Điều 1094-1. Tòa án thẩm tra lợi ích tốt nhất của con dựa trên những sự kiện cụ thể như độ tuổi và khả năng biểu đạt ý chí của người chưa thành niên, quan hệ và năng lực chăm sóc của người được đề cử, mức độ thích hợp của việc quản lý tài sản, cùng sự ổn định trong đời sống.
Người thân thuộc và những người khác có quyền yêu cầu theo quy định của pháp luật, khi có căn cứ luật định, có thể yêu cầu tòa án chỉ định, thay đổi người giám hộ hoặc đưa ra những xử lý cần thiết khác. Điều này không có nghĩa là chỉ dựa vào quan hệ gia đình mà một người được đề cử nào đó đương nhiên trở thành người giám hộ. Người giám hộ không phải là khái niệm đồng nhất với người cha hoặc mẹ đang thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con, và có thể phải gánh những nghĩa vụ riêng về phạm vi quyền hạn, về việc lập bảng kê tài sản, về việc báo cáo và về sự giám sát của tòa án.
Khi cân nhắc người giám hộ, quý vị phải tách bạch một cách cụ thể vai trò chăm sóc, bảo hộ và vai trò quản lý tài sản. Đối với người được đề cử cư trú lâu dài ở nước ngoài, người được đề cử có quan hệ lợi ích kinh tế với con, hoặc người được đề cử thiếu kinh nghiệm quản lý tài sản, hãy xem xét liệu có cần cơ chế bổ sung hay không. Tòa án có thể phán đoán phương thức giám sát hoặc những biện pháp cần thiết cho phù hợp với tình hình thực tế.
7. Bảo vệ tài sản thừa kế của con chưa thành niên
Không được. Theo Điều 1087 và Điều 1088 Bộ luật Dân sự Đài Loan, tài sản mà con chưa thành niên có được do thừa kế là tài sản riêng của con (特有財產), và cha mẹ hay người giám hộ không vì thế mà trở thành chủ sở hữu thực chất của tài sản đó. Việc quản lý, sử dụng, thu lợi, đại diện theo pháp luật và định đoạt đều phải nhằm vào lợi ích của con; khi có xung đột lợi ích hoặc khi định đoạt những tài sản quan trọng, có thể phải xem xét việc chỉ định người đại diện đặc biệt (特別代理人) hoặc sự can thiệp của tòa án. Không được cho rằng cha mẹ có thể đơn phương sử dụng tài sản thừa kế của con mà không chịu giới hạn nào.
Tài sản riêng của con là tài sản quy thuộc về chính bản thân người chưa thành niên. Đối với tiền gửi, bất động sản, cổ phần hay các quyền khác mà con được thừa kế, phải làm rõ đó là tài sản của con và quản lý tách bạch vì lợi ích của con. Dù cha mẹ hoặc người giám hộ đảm nhận công việc quản lý, họ cũng không trở thành chủ sở hữu thực chất của tài sản đó, và không được dùng tài sản ấy cho chi phí sinh hoạt của mình hay để thanh toán các khoản nợ của mình.
Quyền quản lý, sử dụng, thu lợi và định đoạt theo Điều 1088 Bộ luật Dân sự bị ràng buộc vào mục đích vì lợi ích của con. Điều quan trọng là ghi lại thành hồ sơ loại tài sản, sự cần thiết của việc định đoạt, tính thỏa đáng của khoản đối giá, cùng cách bảo quản và kế hoạch sử dụng số tiền thu được từ việc định đoạt. Đối với những hành vi có giá trị và rủi ro lớn như bán bất động sản, đem tài sản đi bảo đảm hay đầu tư vào hoạt động kinh doanh, quý vị còn phải xác nhận xem có đòi hỏi sự cho phép theo pháp luật khác hoặc thủ tục tại tòa án hay không.
Khi cha mẹ và con cùng là người thừa kế chung của một khối di sản, hoặc khi hai bên là bên đối ứng của nhau trong một hợp đồng, xung đột lợi ích có thể phát sinh. Quý vị phải xem xét chế độ người đại diện đặc biệt tại Điều 1086 Bộ luật Dân sự và xác nhận ai là người có thể thay mặt con tham gia thỏa thuận phân chia di sản hay thực hiện các hành vi tố tụng. Việc có chỉ định người đại diện đặc biệt hay không phải được xem xét không chỉ theo hình thức của giao dịch, mà theo tiêu chuẩn là lợi ích kinh tế có thực sự đối lập nhau hay không.
Khi người giám hộ của người chưa thành niên quản lý tài sản, các quy tắc về việc lập bảng kê tài sản, lưu giữ chứng từ, tách bạch thu và chi, báo cáo với tòa án cùng chịu sự giám sát đều có thể được áp dụng. Tài khoản tài chính và tài sản đầu tư phải được quản lý sao cho nhận diện được đó là tài sản của con, còn các khoản chi phải được ghi lại mục đích và căn cứ. Để có thể bàn giao thuận lợi tài sản cùng hồ sơ quản lý khi chế độ giám hộ chấm dứt hoặc khi người chưa thành niên đủ tuổi thành niên, tài liệu phải được sắp xếp có hệ thống ngay từ đầu.
Ngay cả kế hoạch sử dụng tín thác hay bảo hiểm cũng không thể được kết luận là chắc chắn an toàn chỉ dựa vào nội dung hợp đồng. Quý vị phải xác nhận người nhận tín thác và người thụ hưởng, điều kiện chi trả, thù lao quản lý, cơ chế giám sát, các điều kiện thay đổi và chấm dứt; đồng thời phải xem xét cả vấn đề phần di sản bắt buộc và vấn đề thuế. Hãy phản ánh một cách cân bằng nhu cầu hiện tại và đời sống tương lai của con, nhưng không được đặt sự thuận tiện của người quản lý tài sản lên trên lợi ích của con.
8. Luật áp dụng và thủ tục đối với gia đình có yếu tố nước ngoài
Đối với gia đình có yếu tố quốc tế, không được áp dụng ngay các quy tắc trong nước của Bộ luật Dân sự Đài Loan. Quốc tịch, nơi cư trú và nơi cư trú thường xuyên (經常居所) của đương sự, nơi đặt trung tâm đời sống vào thời điểm qua đời, nơi có tài sản, việc kết hôn hay ly hôn được xác lập ở nước ngoài, cùng các bản án, quyết định đã có về quyền, nghĩa vụ đối với con, đều có thể ảnh hưởng đến việc phán đoán luật áp dụng và thẩm quyền. Ngay trong cùng một gia đình, việc thừa kế, chế độ tài sản vợ chồng, quyền và nghĩa vụ đối với con chưa thành niên, chế độ giám hộ và việc đăng ký tài sản vẫn có khả năng chịu những tiêu chuẩn kết nối khác nhau.
Luật Áp dụng Pháp luật đối với Quan hệ Dân sự có Yếu tố Nước ngoài (涉外民事法律適用法) của Đài Loan là điểm xuất phát để xác định luật áp dụng cho quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên, chỉ xác nhận đạo luật đó có thể chưa đủ; quý vị còn phải xem xét đồng thời thẩm quyền tài phán quốc tế của tòa án, việc công nhận và thi hành bản án của nước ngoài, các điều ước cùng pháp luật của quốc gia liên quan. Việc một phán đoán có hiệu lực tại Đài Loan có được thừa nhận nguyên vẹn cho việc chuyển dịch tài sản nằm ở nước ngoài hay không, cũng phải được xác nhận riêng tại nơi có tài sản.
Đối với di chúc được lập ở nước ngoài, quý vị phải xem xét phương thức lập, hiệu lực về mặt nội dung, việc dịch thuật và chứng nhận (認證), cùng thủ tục kiểm nhận hay thi hành. Giấy chứng nhận kết hôn, ly hôn và các giấy tờ về quan hệ khai sinh của nước ngoài có thể cần đến apostille hoặc xác nhận của cơ quan lãnh sự kèm bản dịch. Nếu cách ghi tên, thông tin trên hộ chiếu và ghi chép hộ tịch không khớp nhau, quý vị có thể bị yêu cầu bổ sung giấy tờ trong quá trình xác minh cùng một người.
Nếu có bản án, quyết định của nước ngoài về quyền, nghĩa vụ đối với con hoặc về chế độ giám hộ, quý vị phải xác nhận bản án, quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật (確定) hay chưa, có được đưa ra theo thủ tục hợp pháp hay không, và có thể được công nhận tại Đài Loan hay không. Nếu con đặt nơi cư trú thường xuyên tại một quốc gia khác, thẩm quyền của tòa án sở tại và các biện pháp bảo vệ khẩn cấp cũng có thể rất quan trọng. Việc tiến hành thủ tục của quốc gia nào trước phải được cân nhắc đồng thời với lợi ích tốt nhất của con và khả năng thi hành.
Về thuế, nghĩa vụ kê khai riêng cũng có thể phát sinh ở từng quốc gia. Quý vị phải xác nhận xem việc kê khai thuế thừa kế tại Đài Loan có trùng lặp với thuế thừa kế và thuế tặng cho ở nước ngoài, với việc khai báo tài khoản tài chính ở nước ngoài và với thuế chuyển dịch bất động sản hay không, đồng thời phải xem xét các quy định điều chỉnh việc đánh thuế trùng. Ngày làm mốc tính tỷ giá, phương pháp định giá tài sản và phạm vi người có nghĩa vụ nộp thuế có thể khác nhau, vì vậy không được sao chép nguyên xi kết quả kê khai của một quốc gia sang quốc gia khác.
9. Danh mục chuẩn bị trên thực tế
Trình tự dưới đây là khung cơ bản giúp quý vị thu thập đầy đủ các tình tiết và không nhầm lẫn giữa những quyền và thủ tục khác nhau. Thứ tự nộp hồ sơ trên thực tế có thể thay đổi tùy theo cơ quan có thẩm quyền và mức độ khẩn cấp của vụ việc, vì vậy quý vị phải xác nhận riêng thời hạn của từng bước.
- Xác nhận giấy chứng tử và tài liệu khai tử, tài liệu về quan hệ thân thuộc cùng hộ tịch Đài Loan, ghi chép về kết hôn, ly hôn và nuôi con nuôi, cùng các bản án, quyết định đã có của tòa án. Nếu là giấy tờ nước ngoài, hãy kiểm tra cả việc chứng nhận, việc dịch thuật và sự thống nhất trong cách ghi tên.
- Rà soát bất động sản, tiền gửi, tài sản đầu tư, phần vốn trong doanh nghiệp và động sản, quyền đòi nợ, đồng thời chỉnh lý cả các khoản vay, bảo lãnh, thuế và nghĩa vụ theo hợp đồng. Hãy ghi chú riêng tên người đứng đăng ký và quan hệ sở hữu thực chất, người thụ hưởng bảo hiểm, tín thác, tài sản chung cùng tài liệu về việc chuyển dịch tài sản lúc còn sống.
- Xác nhận bản gốc di chúc và phương thức lập, năng lực lập di chúc, các điều kiện về người làm chứng hay công chứng, người thi hành di chúc và nội dung di tặng. Hãy xem xét đồng thời việc một di chúc hợp lệ làm thay đổi cách phân chia ra sao và những giới hạn của các quy định mang tính bắt buộc như phần di sản bắt buộc.
- Tính tách bạch phần thừa kế theo pháp luật và quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại của vợ chồng. Hãy phân biệt đối tượng tính toán, các khoản nợ, những mục bị loại trừ, ngày làm mốc định giá và chứng từ của từng chế độ, và không phản ánh trùng lặp kết quả tính của bên này sang bên kia.
- Xác định phần tài sản quy thuộc về con chưa thành niên và xác nhận quyền đại diện theo pháp luật, phạm vi quản lý của cha mẹ hoặc người giám hộ, xung đột lợi ích cùng việc có cần người đại diện đặc biệt hay không. Hãy chuẩn bị cả cách thức bảo quản tài khoản, sổ sách và số tiền thu được từ việc định đoạt một cách tách biệt với tài sản riêng của người thành niên.
- Tách riêng theo từng cơ quan các thủ tục tại tòa án về việc từ chối nhận di sản, bảng kê di sản, chế độ giám hộ và người đại diện đặc biệt, việc kê khai thuế thừa kế tại cơ quan thuế, việc khai báo hộ tịch và thủ tục đăng ký tài sản. Hãy xác nhận thẩm quyền, mốc khởi tính, giấy tờ phải nộp, khả năng bổ sung và việc gia hạn của từng thủ tục, đồng thời lưu giữ biên nhận cùng bản sao.
Khi thu thập tài liệu, quý vị nên ghi lại nơi lưu giữ bản gốc, ngày cấp và ngày làm mốc, đồng thời sắp xếp tệp điện tử và văn bản giấy theo cùng một hệ thống phân loại. Nếu có nhiều người thừa kế chung hoặc nhiều người quản lý tài sản, phải lưu lại việc ai giữ tài liệu nào và ai đã chấp thuận hành vi nào. Thông tin cá nhân và thông tin tài chính của người chưa thành niên phải được quản lý về quyền truy cập, sao cho chỉ cung cấp cho những người và cơ quan thực sự cần đến.
Quý vị cũng phải phân biệt phần tài sản cần được bảo toàn khẩn cấp với các thủ tục kê khai thông thường. Trước hết hãy xem xét có tồn tại những tình tiết phải kiểm tra ngay hay không, như nguy cơ tài khoản hoặc hoạt động kinh doanh bị gián đoạn, bất động sản bị hư hại, hay thời hiệu khởi kiện (消滅時效) của quyền đòi nợ; nhưng không được lấy tính khẩn cấp làm lý do để định đoạt khi không có quyền. Việc quản lý chung tiến độ của thủ tục tại tòa án và của các thủ tục về thuế, hộ tịch, đăng ký trên cùng một bảng tiến độ sẽ có ích.
10. Tài liệu chính thức
- Cơ sở dữ liệu pháp quy toàn quốc Đài Loan: Bộ luật Dân sự
- Bộ Tư pháp Đài Loan, hệ thống tra cứu pháp quy: bản tiếng Anh của Bộ luật Dân sự
- Cơ sở dữ liệu pháp quy toàn quốc Đài Loan: Luật Áp dụng Pháp luật đối với Quan hệ Dân sự có Yếu tố Nước ngoài
- Viện Tư pháp Đài Loan (司法院): mẫu đơn yêu cầu chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên
- Cổng thông tin Thuế vụ của Bộ Tài chính Đài Loan: quy trình nộp hồ sơ và giấy tờ cần chuẩn bị đối với vụ việc thừa kế
Trên các trang pháp quy chính thức, quý vị hãy xác nhận ngày sửa đổi và ngày thi hành của từng điều luật; bản tiếng Anh chỉ nên dùng làm tài liệu bổ trợ để đối chiếu phần giải thích bằng tiếng Việt với nguyên văn điều luật. Mẫu đơn của Viện Tư pháp và hướng dẫn trên Cổng thông tin Thuế vụ cho thấy hướng chuẩn bị chung, nhưng thẩm quyền và điều kiện nộp hồ sơ của từng vụ việc vẫn phải được xác nhận riêng theo hướng dẫn mới nhất của cơ quan tiếp nhận.
11. Hướng dẫn liên quan
Bài viết này là tài liệu mang tính giáo dục nhằm giải thích một cách khái quát chế độ thừa kế, chế độ tài sản vợ chồng, quyền và nghĩa vụ đối với con chưa thành niên cùng chế độ giám hộ người chưa thành niên tại Đài Loan, không phải ý kiến tư vấn pháp lý cho một vụ việc thừa kế hay một việc gia đình cụ thể. Luật được áp dụng, thủ tục và kết quả có thể khác nhau tùy theo phạm vi những người thừa kế, di chúc, tài sản và các khoản nợ, chế độ tài sản trong hôn nhân, các bản án, quyết định đã có của tòa án và các yếu tố quốc tế. Trước khi tính những thời hạn như việc từ chối nhận di sản hay việc kê khai thuế, hoặc trước khi định đoạt tài sản, xin quý vị xác nhận tài liệu chính thức mới nhất cùng các tình tiết của riêng mình.
Luật sư Wei Tseng (曾雋崴)
Frequently Asked Questions
- Nếu không có di chúc và những người thừa kế chỉ gồm vợ hoặc chồng cùng hai người con thì phần thừa kế theo pháp luật được tính như thế nào?
- Theo Điều 1138 và Điều 1144 Bộ luật Dân sự (民法) Đài Loan, vợ hoặc chồng còn sống thừa kế chung với những người thừa kế thuộc hàng đang được áp dụng, còn con cháu huyết thống trực hệ (直系血親卑親屬) là hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật. Nếu không có di chúc hợp lệ, những người thừa kế có liên quan chỉ gồm vợ hoặc chồng cùng hai người con, đồng thời không tồn tại việc từ chối nhận di sản (拋棄繼承), việc mất quyền thừa kế (喪失繼承權), việc thừa kế thế vị (代位繼承) hay bất kỳ tình tiết nào khác đủ làm thay đổi kết luận, thì thông thường ba người mỗi người có một phần ba. Đây chỉ là giả định nhằm giải thích quy tắc, không phải kết luận cho một vụ việc thừa kế cụ thể nào.
- Quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại của vợ hoặc chồng có phải là quyền giống với phần thừa kế theo pháp luật không?
- Không phải. Quyền yêu cầu phân chia phần chênh lệch tài sản còn lại của vợ chồng (剩餘財產差額分配) theo Điều 1030-1 Bộ luật Dân sự (民法) Đài Loan là quyền mà vợ hoặc chồng còn sống có thể yêu cầu riêng khi các điều kiện luật định được thỏa mãn, và phải được tính tách bạch với phần thừa kế theo pháp luật (應繼分). Không phải mọi tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân đều đương nhiên thuộc đối tượng tính toán, và vợ hoặc chồng còn sống cũng không nhất thiết nhận được một nửa di sản. Quý vị phải xác nhận chế độ tài sản vợ chồng, nguyên nhân và thời điểm có được của từng tài sản, các khoản nợ cùng những mục bị loại trừ theo luật định, rồi mới phán đoán theo từng trường hợp cụ thể.
- Khi một trong hai người cha mẹ qua đời thì việc thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên (未成年子女權利義務之行使或負擔) của người cha hoặc mẹ còn sống sẽ ra sao?
- Theo Điều 1089 Bộ luật Dân sự (民法) Đài Loan, khi một bên cha hoặc mẹ không thể thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên thì về nguyên tắc bên kia thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đó. Do đó, nếu người cha hoặc mẹ còn sống vẫn giữ việc thực hiện và gánh vác quyền, nghĩa vụ đối với con chưa thành niên và không có bản án, quyết định nào của tòa án với nội dung trái ngược, thì thông thường người đó tiếp tục thực hiện và gánh vác các quyền, nghĩa vụ ấy. Tuy nhiên, tùy theo những tình tiết cụ thể như bản án, quyết định đã có, các căn cứ làm hạn chế hoặc đình chỉ quyền, nghĩa vụ đối với con, yếu tố nước ngoài và lợi ích tốt nhất của con chưa thành niên (子女最佳利益), vẫn có thể cần đến sự can thiệp của tòa án.
- Người cha hoặc mẹ còn sống có được tự do sử dụng tài sản mà con chưa thành niên được thừa kế không?
- Không được. Theo Điều 1087 và Điều 1088 Bộ luật Dân sự (民法) Đài Loan, tài sản mà con chưa thành niên có được do thừa kế là tài sản riêng của con (特有財產), và cha mẹ hay người giám hộ không vì thế mà trở thành chủ sở hữu thực chất của tài sản đó. Việc quản lý, sử dụng, thu lợi, đại diện theo pháp luật và định đoạt đều phải nhằm vào lợi ích của con; khi có xung đột lợi ích hoặc khi định đoạt những tài sản quan trọng, có thể phải xem xét việc chỉ định người đại diện đặc biệt (特別代理人) hoặc sự can thiệp của tòa án. Không được cho rằng cha mẹ có thể đơn phương sử dụng tài sản thừa kế của con mà không chịu giới hạn nào.

