Khi một doanh nghiệp nước ngoài muốn hoạt động kinh doanh một cách liên tục tại Đài Loan, hai hình thức thường được cân nhắc là công ty con (子公司) tại Đài Loan và chi nhánh (分公司) Đài Loan của công ty nước ngoài. Cả hai hình thức đều là cách tạo lập cơ sở kinh doanh tại Đài Loan, nhưng ai trở thành bên ký kết hợp đồng, ai gánh chịu các khoản nợ, có nhận được vốn góp của người thứ ba hay không, và cần thủ tục gì khi chuyển lợi nhuận ra nước ngoài thì lại khác nhau. Nếu chỉ so sánh sự thuận tiện ở giai đoạn thành lập, trong quá trình vận hành quý vị có thể gặp phải trách nhiệm hoặc vấn đề thuế không lường trước, vì vậy phải phán đoán trên toàn bộ thời gian hoạt động của doanh nghiệp.
Công ty con tại Đài Loan là pháp nhân độc lập được thành lập theo pháp luật Đài Loan. Công ty mẹ nước ngoài có thể trở thành cổ đông (股東), nhưng công ty con là chủ thể của quyền và nghĩa vụ, tách biệt với công ty mẹ. Ngược lại, chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài là một bộ phận của trụ sở chính (本公司) ở nước ngoài, là cơ sở kinh doanh không có tư cách pháp nhân riêng. Trong đời sống thường ngày, hình thức này đôi khi cũng được gọi là văn phòng chi nhánh, nhưng trong bài viết này chúng tôi dùng thuật ngữ chi nhánh để làm rõ quan hệ pháp luật.
Hình thức nào phù hợp hơn còn tùy thuộc vào ngành nghề, thành phần nhà đầu tư, cấu trúc hợp đồng, các giấy phép cần có tại Đài Loan, số nhân sự tuyển dụng, cách thức huy động vốn, việc sử dụng và thu hồi lợi nhuận, kế hoạch mời thêm đối tác hoặc niêm yết trong tương lai, và kế hoạch ngừng kinh doanh. Ngay cả khi công ty mẹ đặt tại Việt Nam, quý vị không nên chỉ nhìn vào pháp luật Đài Loan, mà phải xem xét đồng thời chế độ kế toán, thuế và thủ tục đầu tư ra nước ngoài của nước nơi công ty mẹ đặt trụ sở. Dưới đây, bài viết so sánh theo thứ tự: tư cách pháp nhân, thuế, trách nhiệm, huy động vốn, tín dụng thuế đầu tư, hiệp định thuế thu nhập và việc rút khỏi thị trường.
1. Tư cách pháp nhân và cơ cấu góp vốn
Chi nhánh là một bộ phận của công ty nước ngoài, nên bản thân chi nhánh không tồn tại cổ đông. Nếu muốn cùng người thứ ba góp vốn kinh doanh tại Đài Loan, quý vị phải xem xét các phương án như thành lập công ty con tại Đài Loan và quyết định thành phần cổ đông. Trách nhiệm, quyền biểu quyết, việc huy động vốn, giấy phép và nghĩa vụ thuế phải được xác nhận theo quan hệ góp vốn và kế hoạch kinh doanh.
Điều 1 Luật Công ty Đài Loan (公司法) quy định công ty là pháp nhân được tổ chức, đăng ký và thành lập theo Luật Công ty với mục đích sinh lợi. Công ty con tại Đài Loan được thành lập theo quy định đó là một pháp nhân Đài Loan tách biệt với công ty mẹ nước ngoài. Công ty con có thể nhân danh chính mình thuê văn phòng, ký kết hợp đồng giao dịch và hợp đồng lao động, có thể sở hữu tài sản và trở thành đương sự trong vụ kiện. Quyền chủ nợ và khoản nợ phát sinh từ hợp đồng về nguyên tắc cũng thuộc về công ty con. Ngay cả khi công ty mẹ quyết định phương châm kinh doanh hoặc bổ nhiệm người quản trị hoặc người quản lý, tư cách pháp nhân của hai công ty cũng không vì thế mà hợp làm một.
Phạm vi trách nhiệm áp dụng cho công ty con được phán đoán theo loại hình công ty đã chọn trên thực tế và theo hành vi cụ thể. Chẳng hạn, thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn (有限公司) theo khoản 1 Điều 99 Luật Công ty về nguyên tắc chịu trách nhiệm với công ty trong phạm vi phần vốn góp. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 99 đặt ra ngoại lệ: khi thành viên lạm dụng tư cách pháp nhân khiến công ty khó thanh toán một khoản nợ nhất định và mức độ lạm dụng là nghiêm trọng thì có thể phải chịu trách nhiệm trong phạm vi cần thiết. Ngoài ra, nếu thành viên hoặc công ty mẹ đã cung cấp bảo lãnh hoặc trực tiếp tham gia vào hành vi trái pháp luật, thì trách nhiệm phát sinh từ chính bảo lãnh hoặc hành vi đó cũng phải được xem xét. Vì vậy, nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn là điểm xuất phát quan trọng, nhưng không bảo đảm rằng trong mọi tình huống trách nhiệm đều dừng lại ở mức phần vốn góp.
Công ty nước ngoài muốn nhân danh chính mình kinh doanh tại Đài Loan thì phải tuân theo các quy định của Luật Công ty về chi nhánh. Theo Điều 371 Luật Công ty, công ty nước ngoài không được nhân danh công ty nước ngoài để kinh doanh tại Đài Loan nếu chưa đăng ký chi nhánh. Theo Điều 372, công ty nước ngoài phải phân bổ riêng khoản vốn dùng cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh tại Đài Loan và chỉ định người phụ trách trong lãnh thổ Đài Loan. Khoản vốn này là vốn của trụ sở chính dành cho hoạt động kinh doanh tại Đài Loan, chứ không phải cổ phần hay phần vốn góp của chi nhánh. Việc chỉ định người phụ trách cũng không phải là thủ tục biến chi nhánh thành một công ty độc lập, mà là cơ chế để thực hiện công việc của công ty nước ngoài tại Đài Loan và làm rõ quan hệ trách nhiệm.
| Hạng mục so sánh | Công ty con tại Đài Loan | Chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài |
|---|---|---|
| Địa vị pháp lý | Pháp nhân độc lập được thành lập theo pháp luật Đài Loan | Một bộ phận của trụ sở chính ở nước ngoài, không có tư cách pháp nhân riêng |
| Cơ cấu góp vốn và cổ đông | Quyết định cổ đông và quan hệ góp vốn theo loại hình công ty | Không có cổ phần, phần vốn góp hay cơ cấu cổ đông của riêng mình |
| Đầu tư chung với người thứ ba | Có thể thiết kế bằng điều lệ công ty, thành phần cổ đông và thỏa thuận giữa các cổ đông | Không thể góp vốn để nhận phần quyền lợi trong chính chi nhánh; phải xem xét các cấu trúc hợp tác kinh doanh hợp pháp khác |
| Chủ thể chịu trách nhiệm | Hợp đồng và khoản nợ về nguyên tắc thuộc về công ty con | Hợp đồng và khoản nợ của chi nhánh thuộc về công ty nước ngoài |
| Quyết định quan trọng và kiểm soát vận hành | Theo các cơ quan của loại hình công ty đã chọn như đại hội cổ đông (股東會), thành viên hội đồng quản trị hoặc người quản trị (董事), và theo quy chế nội bộ | Theo hệ thống ra quyết định của trụ sở chính ở nước ngoài và thẩm quyền của người phụ trách tại Đài Loan |
Nếu quý vị dự định cùng người thứ ba kinh doanh tại Đài Loan thì việc chỉ ấn định tỷ lệ góp vốn là chưa đủ. Phải thỏa thuận đồng thời về quyền biểu quyết, việc bổ nhiệm người quản trị, quyền đồng ý đối với những vấn đề trọng yếu, việc góp vốn bổ sung, biện pháp xử lý khi thiếu vốn, việc sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, việc phân chia lợi nhuận, hạn chế cạnh tranh, chuyển nhượng phần vốn, tình huống bế tắc và việc chấm dứt hoạt động kinh doanh. Cách cùng góp vốn vào công ty con tại Đài Loan có ưu điểm là cho phép thiết kế những quan hệ này ngay trong cơ cấu cổ đông của công ty. Tuy nhiên, cũng có thể tồn tại những phương pháp hợp pháp khác như hợp tác kinh doanh theo hợp đồng cho một dự án cụ thể hay lập một cấu trúc có mục đích đặc biệt riêng, nên không thể khẳng định công ty con là lời giải duy nhất cho mọi hình thức hợp tác kinh doanh.
Trong phương thức chi nhánh, chủ thể pháp lý cuối cùng đối với việc vận hành chi nhánh là công ty nước ngoài. Trụ sở chính cần quy định cụ thể phạm vi hợp đồng mà người phụ trách tại Đài Loan được ký kết, thẩm quyền giao dịch ngân hàng, quyền nhân sự, hệ thống báo cáo, việc phê duyệt ngân sách và kiểm soát nội bộ. Ngược lại, nếu chọn công ty con, quý vị phải phân định và lập thành văn bản điều lệ công ty và cơ cấu các cơ quan, việc phân chia thẩm quyền giữa các cổ đông, cũng như các hợp đồng dịch vụ, cho vay và cấp quyền sử dụng giữa công ty con và công ty mẹ. Điều quan trọng không phải là tên gọi, mà là thẩm quyền thực tế và dòng giao dịch có phù hợp với cấu trúc pháp lý hay không.
Giấy phép cũng không thể kết luận chỉ dựa vào tư cách pháp nhân. Bởi vì quy định của từng ngành nghề có thể ấn định riêng về chủ thể nộp đơn, mức vốn tối thiểu, nhân lực chuyên môn, địa điểm kinh doanh, việc thẩm định đầu tư của người nước ngoài hoặc tư cách của người phụ trách. Việc công ty con hay chi nhánh có thể đăng ký được và việc có thể kinh doanh một ngành nghề chịu quản lý cụ thể nào đó là hai chuyện không giống nhau. Quý vị phải phân nhỏ các hoạt động kinh doanh dự kiến, rồi xác nhận trước bên ký kết hợp đồng và chủ thể đứng tên giấy phép cho từng hoạt động.
2. Thuế và việc chuyển lợi nhuận
Công ty con và chi nhánh nói chung chịu thuế kinh doanh (營業稅) 5% và thuế thu nhập doanh nghiệp 20%. Khi công ty con tại Đài Loan chia cổ tức cho công ty mẹ ở nước ngoài, thuế suất khấu trừ tại nguồn theo pháp luật trong nước của Đài Loan là 21%; nếu đáp ứng các điều kiện áp dụng của Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc thì thuế suất trần là 10%. Việc chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài chuyển lợi nhuận sau thuế về trụ sở chính không phải là chia cổ tức, nên về nguyên tắc không phát sinh khấu trừ tại nguồn bổ sung. Doanh nghiệp có trụ sở chính ở ngoài Đài Loan không thuộc đối tượng phải kê khai khoản thuế bổ sung 5% trên lợi nhuận chưa phân phối.
Thuế kinh doanh là loại thuế gián thu áp dụng cho giao dịch cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ tại Đài Loan. Thuế suất phổ thông là 5% và thông thường một kỳ tính thuế là hai tháng. Tuy nhiên, việc áp dụng thuế suất 0%, miễn thuế, thuế suất đặc biệt hay việc khấu trừ thuế đầu vào có thể khác nhau tùy tính chất giao dịch. Cả công ty con lẫn chi nhánh, nếu thực hiện hoạt động kinh doanh chịu thuế tại Đài Loan, đều phải xem xét nghĩa vụ thuế kinh doanh; nhưng không thể chỉ vì cùng con số 5% mà cho rằng số thuế thực nộp của từng doanh nghiệp là như nhau.
Thuế thu nhập doanh nghiệp (營利事業所得稅) được tính trên cơ sở thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp sinh lợi. Khi thu nhập chịu thuế vượt mức chuẩn theo luật định, thuế suất phổ thông là 20%. Đây không phải là loại thuế lấy doanh thu nhân ngay với 20%; việc ghi nhận doanh thu, việc công nhận chi phí được trừ, khấu hao, việc bù trừ lỗ, các khoản khấu trừ thuế và việc điều chỉnh định giá chuyển giao (移轉訂價) đều làm cho cơ sở tính thuế và số thuế thực tế khác nhau. Ngay cả khi doanh thu như nhau và áp dụng cùng một thuế suất, nếu cấu trúc hợp đồng và việc quy kết chi phí khác nhau thì kết quả kê khai của công ty con và chi nhánh cũng có thể không giống nhau.
| Hạng mục thuế | Công ty con tại Đài Loan | Chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài |
|---|---|---|
| Thuế kinh doanh | Thuế suất phổ thông 5%, thông thường kê khai theo chu kỳ hai tháng | Thuế suất phổ thông 5%, thông thường kê khai theo chu kỳ hai tháng |
| Thuế thu nhập doanh nghiệp | Thuế suất phổ thông 20% khi thu nhập chịu thuế vượt mức chuẩn | Thuế suất phổ thông 20% trên thu nhập chịu thuế thuộc về chi nhánh tại Đài Loan |
| Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài | Cổ tức trả cho công ty mẹ ở nước ngoài chịu khấu trừ 21% theo pháp luật trong nước; khi đáp ứng điều kiện của hiệp định thì thuế suất trần đối với cổ tức theo Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc là 10% | Việc chuyển lợi nhuận sau thuế của chi nhánh về trụ sở chính không phải là cổ tức, nên về nguyên tắc không có khấu trừ riêng đối với cổ tức |
| Thuế bổ sung trên lợi nhuận chưa phân phối | Khi giữ lại lợi nhuận, phải xem xét khoản thuế bổ sung 5% theo Luật Thuế Thu nhập | Doanh nghiệp có trụ sở chính ở ngoài Đài Loan không thuộc đối tượng kê khai |
| Vấn đề tính toán then chốt | Chi phí, lỗ, việc giữ lại lợi nhuận, thời điểm chia cổ tức, chủ sở hữu hưởng lợi | Thu nhập thuộc Đài Loan, việc phân bổ chi phí giữa trụ sở chính và chi nhánh, định giá chuyển giao, hồ sơ chuyển tiền |
Khi công ty con tại Đài Loan chia lợi nhuận sau thuế cho công ty mẹ ở nước ngoài, công ty con và cổ đông là hai chủ thể pháp lý khác nhau. Theo pháp luật trong nước của Đài Loan, thuế suất khấu trừ tại nguồn đối với cổ tức trả cho cổ đông ở nước ngoài là 21%. Tuy nhiên, nếu công ty mẹ đáp ứng các điều kiện áp dụng, chẳng hạn là đối tượng cư trú của Hàn Quốc, thuộc phạm vi Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc và là chủ sở hữu hưởng lợi (受益所有人) của khoản cổ tức, thì có thể xem xét thuế suất trần 10% theo hiệp định. Thuế suất theo hiệp định không tự động được áp dụng chỉ vì bên nhận ở Hàn Quốc. Phải xác nhận theo thực tiễn mới nhất về giấy chứng nhận cư trú thuế, việc xác định chủ sở hữu hưởng lợi, thời điểm chi trả và kê khai, cùng thủ tục nộp đơn hoặc hoàn thuế cần thiết.
Lợi nhuận phát sinh tại chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài không phải là lợi nhuận do một công ty riêng biệt kiếm được rồi phân chia cho cổ đông, mà là một phần lợi nhuận thuộc về trụ sở chính ở nước ngoài. Do đó, sau khi đã kê khai và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại Đài Loan, hành vi chuyển lợi nhuận sau thuế của chi nhánh về trụ sở chính khác với việc chia cổ tức, và ở khâu chi nhánh về nguyên tắc không có khấu trừ tại nguồn bổ sung đối với cổ tức. Điều đó không có nghĩa là mọi khoản chi trả giữa chi nhánh và trụ sở chính luôn được xử lý như nhau. Nếu trong đó có lẫn tiền lãi, tiền bản quyền (royalty), tiền dịch vụ, tiền mua tài sản hoặc khoản chi trả cho người thứ ba, thì phải phán đoán riêng bản chất và nghĩa vụ khấu trừ tại nguồn của từng khoản.
Khoản thuế bổ sung trên lợi nhuận chưa phân phối cũng phải được nhìn theo từng cấu trúc pháp lý. Khi công ty con tại Đài Loan giữ lại lợi nhuận thì có thể phát sinh khoản thuế bổ sung 5% trên lợi nhuận chưa phân phối (未分配盈餘加徵稅額) theo Điều 66-9 Luật Thuế Thu nhập (所得稅法). Ngược lại, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính Đài Loan (財政部), doanh nghiệp có trụ sở chính ở ngoài Đài Loan không thuộc đối tượng kê khai lợi nhuận chưa phân phối đó. Điều này không có nghĩa là hoạt động kinh doanh tại Đài Loan của chi nhánh không bị đánh thuế, cũng không có nghĩa là mọi nghĩa vụ chứng từ liên quan đến việc chuyển tiền về trụ sở chính đều biến mất.
Khi so sánh các hình thức, quý vị phải nhìn vào quá trình lợi nhuận được tạo ra và được sử dụng, chứ không chỉ nhìn bảng thuế suất. Công ty con tính trên sổ sách của chính mình các khoản thu nhập chịu thuế, chi phí, lỗ, lợi nhuận giữ lại và mức có thể chia. Kết quả có thể khác nhau tùy theo việc sau này có cần vốn để tái đầu tư tại Đài Loan hay không, khi nào chia cổ tức, có khoản vay từ cổ đông hay tiền bản quyền hay không. Chi nhánh phải phân định doanh thu và chi phí thuộc về hoạt động kinh doanh tại Đài Loan, đồng thời chuẩn bị căn cứ phân bổ chi phí chung của trụ sở chính. Cách trình bày kế toán và việc quy kết về thuế đối với giao dịch nội bộ giữa trụ sở chính và chi nhánh cũng phải được xem xét.
Nguyên tắc định giá chuyển giao có thể được áp dụng cho giao dịch giữa công ty con và công ty mẹ cũng như cho việc phân bổ chi phí giữa chi nhánh và trụ sở chính. Hợp đồng, hóa đơn, căn cứ tính toán, công việc thực tế của nhân sự, việc sử dụng tài sản và dòng tiền phải khớp với nhau. Không thể chỉ vì trụ sở chính đã chi trả mà coi mọi chi phí là chi phí được trừ của chi nhánh tại Đài Loan; cũng không thể chỉ vì hợp đồng nội bộ tập đoàn có ghi số tiền mà đương nhiên coi chi phí của công ty con là được công nhận. Quý vị phải lưu giữ tài liệu chứng minh tính chất giao dịch và giá giao dịch độc lập.
Ở phía nước nơi công ty mẹ hoặc trụ sở chính đặt trụ sở, phải xác nhận đồng thời việc khấu trừ thuế đã nộp ở nước ngoài, cổ tức từ công ty con ở nước ngoài, thu nhập và lỗ của chi nhánh, việc hạch toán hợp nhất hay riêng lẻ, và thủ tục khai báo ngoại hối. Khoản lỗ ban đầu của chi nhánh Đài Loan được xử lý trong quan hệ nào với trụ sở chính có thể khác nhau tùy theo luật thuế và chuẩn mực kế toán của nước đó. Vì vậy không thể kết luận trước rằng cứ chọn chi nhánh thì gánh nặng thuế của công ty mẹ sẽ giảm. Nên đưa số thuế tại Đài Loan, gánh nặng cuối cùng tại nước của công ty mẹ, thời điểm thu hồi tiền mặt và chi phí chứng từ vào cùng một bảng tính để so sánh.
3. Khoản nợ và trách nhiệm pháp lý
Chi nhánh không phải là pháp nhân tách biệt với công ty nước ngoài, nên khoản nợ của chi nhánh tại Đài Loan chính là khoản nợ của công ty nước ngoài. Nghĩa vụ phát sinh từ các hợp đồng thuê, mua bán, dịch vụ, tuyển dụng hay vay tiền mà người phụ trách chi nhánh ký kết hợp pháp nhân danh công ty nước ngoài, về nguyên tắc do trụ sở chính ở nước ngoài gánh chịu. Ngay cả khi hoạt động kinh doanh tại Đài Loan phát sinh lỗ hoặc khó trả nợ nếu chỉ dùng tài sản của chi nhánh, trách nhiệm của công ty nước ngoài với tư cách chủ thể pháp lý cũng không bị giới hạn ở khoản vốn đã phân bổ cho chi nhánh.
Công ty con tại Đài Loan là pháp nhân riêng biệt, nên hợp đồng do công ty con ký kết và khoản nợ do công ty con gánh chịu về nguyên tắc thuộc về công ty con. Về cơ bản, thành viên góp vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp theo nguyên tắc tại Điều 99 Luật Công ty, còn cổ đông của công ty cổ phần (股份有限公司) chịu trách nhiệm trong phạm vi số cổ phần đã nhận mua theo quy định của loại hình công ty được áp dụng. Khác biệt này có thể trở thành yếu tố quan trọng cần xem xét trong những ngành có rủi ro cao, có hợp đồng dài hạn, hoặc phải làm việc với nhiều người lao động và người tiêu dùng.
Tuy nhiên, việc đã thành lập công ty con không có nghĩa là mọi rủi ro của công ty mẹ đều bị chặn lại. Nếu ngân hàng hoặc bên cho thuê yêu cầu công ty mẹ bảo lãnh thì công ty mẹ có thể phải chịu trách nhiệm theo hợp đồng bảo lãnh. Trường hợp công ty mẹ trực tiếp tiếp nhận hợp đồng của công ty con hoặc ký tên với tư cách bên cùng tham gia hợp đồng cũng vậy. Nếu không phân định tài sản của công ty với tài sản của cổ đông, hoặc lạm dụng tư cách pháp nhân nhằm gây thiệt hại cho chủ nợ, thì có thể phát sinh vấn đề về các ngoại lệ theo Luật Công ty. Ranh giới trách nhiệm không chỉ chịu ảnh hưởng của hình thức đăng ký, mà còn của việc ra quyết định và vận hành dòng tiền trên thực tế.
Nghĩa vụ của thành viên hội đồng quản trị hoặc người quản trị, người quản lý (經理人) và người phụ trách tại Đài Loan cũng phải được xem xét riêng. Những vụ việc mà trách nhiệm của chính người thực hiện hành vi được xác lập, như hành vi trái pháp luật do cố ý hoặc vô ý, vi phạm pháp luật, khai báo gian dối, vi phạm quản lý an toàn, thì không thể giải quyết chỉ bằng hình thức công ty. Quan hệ lao động, việc khấu trừ tại nguồn và kê khai thuế, dữ liệu cá nhân, bảo vệ người tiêu dùng, quy định về môi trường và sản phẩm, nghĩa vụ xin giấy phép theo từng ngành nghề đều tuân theo chủ thể chịu trách nhiệm và chế tài do từng đạo luật quy định. Nếu các công ty trong tập đoàn phân chia nhau thực hiện công việc thì phải làm cho hồ sơ và hoạt động thực tế khớp với nhau, thể hiện rõ ai thực sự đảm nhận nghĩa vụ nào.
Ở giai đoạn hợp đồng, phải thiết kế các điều khoản giới hạn trách nhiệm, bồi thường thiệt hại, bảo lãnh, bảo đảm, luật áp dụng và giải quyết tranh chấp cho phù hợp với rủi ro kinh doanh. Cũng cần phân biệt rủi ro có thể chuyển giao bằng bảo hiểm với rủi ro phải phòng ngừa bằng kiểm soát nội bộ. Nếu làm rõ thẩm quyền sử dụng con dấu và chữ ký điện tử, việc phê duyệt chi tiêu, việc xác minh khách hàng, việc tính và kê khai thuế, việc báo cáo với cơ quan quản lý và hệ thống báo cáo khi xảy ra sự cố, thì sẽ dễ duy trì trong vận hành thực tế sự phân định pháp lý mà hình thức tổ chức mang lại.
Rốt cuộc, việc so sánh trách nhiệm không thể kết thúc bằng một câu rằng công ty con thì an toàn còn chi nhánh thì nguy hiểm. Với chi nhánh, cấu trúc rõ ràng là công ty nước ngoài trực tiếp gánh chịu trách nhiệm; với công ty con, điểm xuất phát là pháp nhân độc lập và nguyên tắc trách nhiệm hữu hạn của cổ đông. Trên nền đó, phải chồng thêm các yếu tố bảo lãnh, hành vi trái pháp luật, lạm dụng tư cách pháp nhân, trách nhiệm theo quy định quản lý và hợp đồng giữa các công ty trong tập đoàn để phán đoán mức rủi ro thực tế và các biện pháp kiểm soát.
4. Huy động vốn và niêm yết tại Đài Loan
Chi nhánh không phải là công ty phát hành độc lập, nên không thể trở thành chủ thể niêm yết tại Đài Loan. Công ty con muốn niêm yết phải đáp ứng các điều kiện do Luật Công ty và sở giao dịch chứng khoán quy định. Ưu đãi thuế không được quyết định một cách nhất loạt chỉ dựa vào hình thức tổ chức. Đối với tín dụng thuế đầu tư (投資抵減) theo Điều 10-1 Điều lệ Đổi mới Công nghiệp (產業創新條例) và các chế độ tương tự, phải xác nhận riêng từng nội dung: khoản đầu tư thuộc đối tượng áp dụng, thời hạn nộp đơn, phương thức tín dụng thuế, việc áp dụng trùng lặp và mức trần số thuế.
Chi nhánh không có cổ phần hay phần vốn góp của riêng mình, nên không thể phát hành chúng cho người thứ ba để người đó trở thành cổ đông của chi nhánh. Vốn cần cho hoạt động kinh doanh tại Đài Loan có thể được thu xếp từ khoản vốn do trụ sở chính phân bổ, từ sự hỗ trợ của trụ sở chính hoặc từ khoản vay hợp pháp. Không được mở rộng việc không thể phát hành phần vốn thành ý nghĩa rằng mọi hình thức huy động vốn đều bất khả thi. Khả năng vay vốn, tài sản bảo đảm, bảo lãnh của trụ sở chính, việc thẩm định của ngân hàng và hồ sơ ngoại hối phải được xác nhận theo từng giao dịch cụ thể.
Công ty con tại Đài Loan có thể vận dụng cấu trúc phát hành cổ phần hoặc tăng vốn góp theo loại hình công ty đã chọn và theo thủ tục luật định. Quý vị có thể mời đối tác bản địa làm cổ đông, thiết kế quyền của nhà đầu tư ở các vòng sau hoặc điều kiện của cổ phần ưu đãi, và xem xét chế độ thưởng cổ phần cho người lao động. Nếu kế hoạch dài hạn bao gồm việc thu hồi vốn đầu tư bằng chuyển nhượng phần vốn, việc tái cơ cấu kinh doanh như hợp nhất hay chia tách, hoặc việc thu hút đầu tư chiến lược, thì công ty con với tư cách pháp nhân độc lập có thể phù hợp với kế hoạch đó. Tuy nhiên, mỗi phương thức đều chịu giới hạn của Luật Công ty, các quy định về đầu tư, điều lệ công ty và thỏa thuận giữa các cổ đông.
Niêm yết tại Đài Loan là lĩnh vực mà khác biệt cấu trúc giữa chi nhánh và công ty con hiện ra rõ rệt. Chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài không phải là công ty phát hành độc lập và cũng không có cổ phần của riêng mình, nên bản thân chi nhánh không thể trở thành chủ thể niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài Loan. Khả năng niêm yết của công ty nước ngoài với tư cách trụ sở chính và khả năng niêm yết của chính chi nhánh tại Đài Loan là hai câu hỏi khác nhau.
Cũng không phải cứ có công ty con tại Đài Loan là tự động có tư cách niêm yết. Nếu dự định niêm yết, trước hết quý vị phải có hình thức công ty phát hành đủ điều kiện niêm yết, và phải đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường tương ứng thuộc Sở Giao dịch Chứng khoán Đài Loan (臺灣證券交易所). Phải chuẩn bị toàn bộ các điều kiện được áp dụng như thời gian đã thành lập, vốn, khả năng sinh lợi, mức độ phân tán cổ phần, quản trị công ty, kiểm soát nội bộ, kiểm toán kế toán và công bố thông tin. Ngành nghề hoặc các hạn chế đối với đầu tư của người nước ngoài, việc tái cơ cấu tập đoàn và thành phần cổ đông cũng có thể ảnh hưởng đến kế hoạch niêm yết.
Vì vậy, quý vị nên phác họa theo trình tự thời gian không chỉ khoản vốn vận hành cần ngay lúc này, mà cả nguồn vốn và cách thu hồi vốn trong tương lai. Khi sắp xếp rõ các câu hỏi như trụ sở chính có cung cấp toàn bộ vốn hay không, có nhận nhà đầu tư Đài Loan hoặc nhà đầu tư nước thứ ba hay không, có cần vay ngân hàng và tài sản bảo đảm hay không, có thưởng cổ phần cho người lao động hay không, sau này có thúc đẩy bán phần vốn hoặc niêm yết hay không, thì cấu trúc phù hợp sẽ trở nên rõ ràng. Cấu trúc phù hợp cho việc thâm nhập ngắn hạn và cấu trúc phù hợp cho kế hoạch huy động vốn dài hạn trên thị trường có thể không giống nhau.
5. Tín dụng thuế đầu tư
Ưu đãi thuế không được quyết định một cách nhất loạt chỉ bằng tên gọi tổ chức là công ty con hay chi nhánh tại Đài Loan. Phải xác nhận toàn bộ các yếu tố: tư cách người nộp thuế, nội dung đầu tư thực tế, số tiền, tình trạng và mục đích sử dụng tài sản, thời điểm đầu tư, thời hạn nộp đơn, thủ tục phê duyệt, phương thức tín dụng thuế và giới hạn về việc áp dụng trùng với các ưu đãi khác. Tín dụng thuế cũng phải được phân biệt với việc tính thu nhập chịu thuế, và không nên hiểu đó là chế độ lấy toàn bộ số tiền đã chi trừ thẳng vào số thuế phải nộp.
Điều 10-1 Điều lệ Đổi mới Công nghiệp (產業創新條例) hiện hành áp dụng cho những khoản đầu tư nhất định trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 1 năm 2025 đến ngày 31 tháng 12 năm 2029. Công ty hoặc công ty hợp danh hữu hạn (有限合夥) đầu tư từ 1.000.000 Đài tệ mới (新臺幣, TWD) trở lên đến 2.000.000.000 TWD trong cùng một năm tính thuế có thể xem xét việc áp dụng, theo các điều kiện luật định và thủ tục phê duyệt. Nhà đầu tư phải mua tài sản thuộc đối tượng áp dụng nhằm mục đích tự sử dụng, đồng thời phải xác nhận tài sản có phải là hàng mới hay không và tình hình sử dụng trên thực tế.
Các lĩnh vực thuộc đối tượng áp dụng là máy móc thông minh mới, hệ thống 5G, sản phẩm hoặc dịch vụ an ninh mạng, sản phẩm hoặc dịch vụ trí tuệ nhân tạo, cùng phần cứng, phần mềm, công nghệ hoặc dịch vụ kỹ thuật liên quan đến tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải carbon. Không phải cứ trông có vẻ thuộc tên gọi của lĩnh vực là được phê duyệt tự động. Phải kiểm tra riêng từng nội dung xem hợp đồng, chứng từ thuế, chứng từ thanh toán, bảng kê tài sản, nội dung kỹ thuật, kế hoạch sử dụng và hồ sơ nộp đơn có phù hợp với phạm vi và thủ tục luật định hay không.
Theo phương thức lựa chọn mà luật quy định, quý vị có thể xem xét cách được tín dụng thuế tối đa 5% số tiền đầu tư của năm đó vào số thuế thu nhập doanh nghiệp của chính năm tính thuế ấy, hoặc cách được tín dụng thuế tối đa 3% số tiền đầu tư mỗi năm trong ba năm. Mức tín dụng thuế hằng năm theo Điều 10-1 bị giới hạn ở 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp của năm đó. Khi áp dụng cùng với các khoản tín dụng thuế đầu tư khác trong cùng một năm, phải xác nhận riêng tổng mức trần tín dụng thuế và giới hạn về việc áp dụng trùng. Con số 30% không có nghĩa là 30% chi phí nghiên cứu và phát triển được hoàn trả tự động.
Chế độ riêng đối với hoạt động nghiên cứu và phát triển có thể thuộc đối tượng của các quy định khác như Điều 10 Điều lệ Đổi mới Công nghiệp. Nếu nhầm lẫn khoản tín dụng thuế liên quan đến nghiên cứu và phát triển tại Điều 10 với khoản tín dụng thuế cho đầu tư vào thiết bị và công nghệ cụ thể tại Điều 10-1, quý vị có thể phán đoán sai về khoản chi thuộc đối tượng, thời điểm nộp đơn và mức trần. Trước khi đầu tư, doanh nghiệp phải phân định rõ để xem xét: định áp dụng điều khoản nào, cơ quan tiếp nhận và lịch trình ra sao, có thể dùng cùng với các khoản trợ cấp hoặc tín dụng thuế khác hay không.
Việc chi nhánh có được nộp đơn hay không, hoặc công ty con có đáp ứng điều kiện hay không, phải được phán đoán trên cơ sở chủ thể nộp đơn do pháp luật liên quan quy định và quan hệ đầu tư trên thực tế. Không phải cứ là công ty con thì được bảo đảm ưu đãi, và cũng không thể khẳng định cứ là chi nhánh thì bị loại khỏi mọi hỗ trợ về thuế. Nếu ký hợp đồng đầu tư và mua tài sản xong mới tìm cách điều chỉnh cấu trúc thì có thể bỏ lỡ thời hạn nộp đơn hoặc yêu cầu về chứng từ, vì vậy xác nhận ngay từ giai đoạn lập kế hoạch đầu tư sẽ an toàn hơn.
6. Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc và cơ sở thường trú (PE)
Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc được ký ngày 17 tháng 11 năm 2021, có hiệu lực ngày 27 tháng 12 năm 2023 và được áp dụng từ ngày 1 tháng 1 năm 2024; đây là hiệp định giữa Đài Loan và Hàn Quốc, và toàn bộ phần trình bày về hiệp định trong mục này chỉ áp dụng cho các trường hợp đáp ứng điều kiện áp dụng của hiệp định. Hiệp định điều chỉnh việc đánh thuế trùng đối với đối tượng cư trú của hai bên, nhưng không phải là quy định tự động miễn thuế cho mọi khoản thu nhập có nguồn tại Đài Loan. Phải xác nhận riêng loại thu nhập, chủ sở hữu hưởng lợi, tư cách đối tượng cư trú, mối liên hệ thực chất với cơ sở thường trú và các thủ tục trong nước.
Theo hiệp định, thuế suất trần đối với cổ tức, tiền lãi và tiền bản quyền đều là 10%. Để áp dụng thuế suất này, bên nhận phải đáp ứng các điều kiện của điều ước, chẳng hạn là đối tượng cư trú của lãnh thổ bên kia theo hiệp định và là chủ sở hữu hưởng lợi của khoản thu nhập đó. Cũng phải chuẩn bị giấy chứng nhận cư trú thuế mà Đài Loan yêu cầu cùng thủ tục nộp đơn, kê khai hoặc hoàn thuế. Nếu giữa các giao dịch có công ty trung gian mang tính dẫn vốn, hoặc khoản thu nhập có liên hệ thực chất với cơ sở thường trú tại Đài Loan, thì có thể cần phân tích riêng.
Về lợi nhuận kinh doanh, khi doanh nghiệp của một bên không đặt cơ sở thường trú (PE, 常設機構) theo hiệp định tại lãnh thổ bên kia thì về nguyên tắc được miễn thuế tại lãnh thổ bên kia. Ngược lại, nếu có cơ sở thường trú thì phần lợi nhuận thuộc về cơ sở thường trú đó có thể bị đánh thuế tại lãnh thổ bên kia. Do vậy, khi xem xét điều khoản về lợi nhuận kinh doanh, trước hết phải xem hoạt động được thực hiện tại Đài Loan có cấu thành cơ sở thường trú hay không, sau đó mới tính doanh thu và chi phí nào thuộc về cơ sở thường trú ấy.
Cơ sở thường trú có thể bao gồm một địa điểm nhất định nơi doanh nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh. Nếu doanh nghiệp hoạt động thông qua cơ sở cố định như nơi quản lý, chi nhánh hay văn phòng, thì phải xem xét thời gian sử dụng địa điểm, quyền định đoạt của doanh nghiệp và công việc được thực hiện. Cơ sở kinh doanh của công ty nước ngoài đã đăng ký chi nhánh chính thức tại Đài Loan thông thường thuộc loại cơ sở thường trú là cơ sở cố định tại Đài Loan, nên không thể cho rằng lợi nhuận kinh doanh tại Đài Loan của chi nhánh đương nhiên được miễn thuế.
Ngoài cơ sở cố định, hiệp định còn quy định nhiều loại cơ sở thường trú khác. Nếu công trường xây dựng, công trình xây dựng, lắp ráp, lắp đặt hoặc hoạt động giám sát liên quan kéo dài quá 6 tháng thì có thể phát sinh vấn đề cơ sở thường trú theo công trình. Nếu doanh nghiệp thông qua người lao động hoặc nhân lực khác cung cấp dịch vụ với tổng số ngày vượt quá 183 ngày trong bất kỳ giai đoạn 12 tháng nào thì có thể hình thành cơ sở thường trú theo dịch vụ. Hoạt động của đại lý thường xuyên thực hiện quyền ký kết hợp đồng thay cho doanh nghiệp cũng có thể cấu thành cơ sở thường trú theo đại lý.
Mỗi tiêu chí xử lý một loại hoạt động khác nhau. Không thể chỉ vì số ngày cung cấp dịch vụ từ 183 ngày trở xuống mà kết luận rằng không tồn tại cơ sở cố định như nơi quản lý hay văn phòng; cũng không phải cứ thời gian thi công từ 6 tháng trở xuống là khả năng có cơ sở thường trú theo đại lý biến mất. Phải xác nhận toàn bộ các yếu tố: địa điểm, thời gian, nhân lực, quyền đàm phán và ký kết hợp đồng, hàng tồn kho hay thiết bị, cùng hình thái kinh doanh thể hiện ra với khách hàng và các bên giao dịch khác.
Công ty con và cơ sở thường trú cũng không phải là cùng một khái niệm. Công ty con tại Đài Loan là pháp nhân riêng biệt, nên không phải cứ là công ty con của công ty mẹ nước ngoài thì lập tức trở thành cơ sở thường trú tại Đài Loan của công ty mẹ. Tuy nhiên, nếu có những tình tiết cụ thể như công ty con thường xuyên thực hiện quyền ký kết hợp đồng thay cho công ty mẹ, hoặc công ty mẹ tiến hành hoạt động kinh doanh của chính mình tại địa điểm của công ty con, thì cần xem xét riêng. Việc đăng ký pháp nhân và điểm kết nối đánh thuế theo hiệp định được phán đoán theo các điều kiện riêng của từng chế định.
Khi chuẩn bị áp dụng hiệp định, quý vị phải có không chỉ hợp đồng và hóa đơn mà cả tài liệu về việc thực hiện công việc trên thực tế. Việc ghi lại số ngày nhân sự lưu trú tại Đài Loan, việc sử dụng địa điểm, việc ra quyết định, việc đàm phán và ký kết hợp đồng, việc gánh chịu chi phí, kết quả dịch vụ và dòng tiền sẽ giúp ích cho việc phán đoán cơ sở thường trú và việc quy kết lợi nhuận. Để không bỏ sót thủ tục kê khai trong nước hay hồ sơ về định giá chuyển giao trong khi vẫn yêu cầu miễn giảm theo hiệp định, quý vị phải quản lý đồng thời lịch kê khai của cả hai bên lãnh thổ.
7. Nên chọn hình thức nào
Không phải công ty con hay chi nhánh là hình thức ưu việt hơn cho mọi trường hợp tiến vào Đài Loan. Nếu là hoạt động kinh doanh cần một pháp nhân Đài Loan độc lập và cơ cấu cổ đông bản địa thì công ty con có thể phù hợp; còn nếu là hoạt động mà công ty nước ngoài trực tiếp kinh doanh tại Đài Loan trong khi vẫn duy trì sự kiểm soát của trụ sở chính thì cấu trúc chi nhánh có thể phù hợp. Tuy nhiên, phải phân biệt phán đoán rằng có thể thành lập được với phán đoán rằng đó có phải là cấu trúc hiệu quả hay không khi tính đến cả vận hành, thuế và việc rút khỏi thị trường.
Trước khi lựa chọn, quý vị nên ghi thành văn bản và so sánh những nội dung sau đây.
- Ai là người góp vốn, và quyền biểu quyết cùng quyền quyết định những vấn đề trọng yếu sẽ được phân chia ra sao
- Trụ sở chính ở nước ngoài hoặc công ty mẹ sẽ gánh chịu trách nhiệm theo hợp đồng và theo pháp luật trong phạm vi nào
- Hợp đồng với khách hàng, quan hệ tuyển dụng, quyền sở hữu trí tuệ, địa điểm kinh doanh và giấy phép sẽ quy về chủ thể nào
- Doanh thu và chi phí sẽ được ghi nhận ở đâu, và sẽ giữ lại lợi nhuận, chia cổ tức hay chuyển tiền về trụ sở chính như thế nào
- Việc phê duyệt đầu tư, tài khoản ngân hàng, việc đưa vốn vào, hồ sơ ngoại hối và chuyển tiền ra nước ngoài sẽ được chuẩn bị ra sao
- Sổ sách kế toán, kiểm toán, hồ sơ về định giá chuyển giao cùng việc kê khai và khấu trừ thuế đã nộp ở nước ngoài tại nước của công ty mẹ sẽ được quản lý thế nào
- Có dự định tăng vốn, mời đối tác bản địa, thưởng cổ phần cho người lao động, niêm yết, hợp nhất, tái cơ cấu hay chuyển nhượng phần vốn hay không
- Khi ngừng kinh doanh, ai sẽ thực hiện việc chấm dứt hợp đồng, quan hệ lao động, kê khai thuế, xử lý tài sản và thủ tục rút khỏi thị trường
Ở giai đoạn đầu khi mới vào Đài Loan, dù doanh thu dự kiến còn ít, nhân sự và số lượng hợp đồng chưa nhiều, quý vị vẫn phải phản ánh cả kế hoạch tương lai. Có thể so sánh theo từng kịch bản: khả năng rút lui sau một thời gian ngắn thử nghiệm thị trường, khả năng đầu tư dài hạn và mời đối tác bản địa, khả năng mở rộng sang ngành nghề chịu quản lý, và việc trụ sở chính có cung cấp bảo lãnh hay không. Nếu lập bảng cho từng kịch bản gồm số vốn cần thiết, tiền mặt sau thuế, mức rủi ro trách nhiệm, chi phí hồ sơ và kê khai, quý vị sẽ giảm được định kiến sinh ra từ tên gọi.
Khả năng thay đổi cấu trúc trong quá trình vận hành cũng cần được xem xét. Việc chuyển hoạt động của chi nhánh sang một công ty con mới hoặc chuyển tài sản của công ty con sang một công ty khác trong tập đoàn có thể kéo theo sự đồng ý của bên đối tác hợp đồng, quan hệ lao động, giấy phép, việc chuyển nhượng tài sản, thuế và thủ tục ngoại hối. Không được giả định rằng hình thức đã chọn lúc đầu về sau có thể đổi một cách đơn giản chỉ bằng cách đổi tên. Nếu có tính đến khả năng chuyển đổi, quý vị nên thiết kế ngay từ đầu điều khoản chuyển nhượng của các hợp đồng chính và quyền sử dụng tài sản trí tuệ.
Thủ tục rút khỏi thị trường cũng khác nhau. Chi nhánh của công ty nước ngoài muốn ngừng hoạt động kinh doanh tại Đài Loan thì phải nộp đơn hủy bỏ đăng ký chi nhánh theo Điều 378 Luật Công ty. Tuy nhiên, các khoản nợ, nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ theo hợp đồng và theo quy định quản lý phát sinh trước khi nộp đơn không biến mất chỉ vì đã nộp đơn. Phải tiến hành theo đúng trình tự việc quyết toán với đối tác giao dịch, chấm dứt quan hệ lao động, thu hồi công nợ, xử lý tài sản, kê khai thuế và tất toán tài khoản ngân hàng.
Theo Điều 379 Luật Công ty, việc hủy bỏ đăng ký chi nhánh không ảnh hưởng đến quyền của chủ nợ và nghĩa vụ của công ty nước ngoài. Chủ nợ vẫn có thể tiếp tục thực hiện các quyền phát sinh từ hoạt động kinh doanh trước khi hủy bỏ, và công ty nước ngoài vẫn gánh chịu nghĩa vụ đó. Vì vậy, không được phán đoán rằng trách nhiệm trong quá khứ đã kết thúc chỉ vì chi nhánh đã biến mất khỏi sổ đăng ký. Cũng phải xác nhận những hợp đồng và bảo lãnh có khả năng phát sinh tranh chấp, khoảng thời gian có thể bị thanh tra thuế và nghĩa vụ lưu giữ hồ sơ.
Trường hợp toàn bộ chi nhánh tại Đài Loan của công ty nước ngoài bị hủy bỏ, theo Điều 380 Luật Công ty phải thanh lý các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh tại Đài Loan và từ chi nhánh. Những khoản nợ chưa trả được sau khi thanh lý vẫn do công ty nước ngoài tiếp tục gánh chịu. Nguyên tắc trụ sở chính ở nước ngoài và chi nhánh là cùng một chủ thể pháp lý không chỉ vận hành lúc gia nhập thị trường, mà cả lúc rút khỏi thị trường. Việc bổ nhiệm người thanh lý, việc thông báo cho chủ nợ, việc kê khai và xử lý số tiền còn lại cũng phải theo đúng thủ tục mới nhất.
Công ty con tại Đài Loan là pháp nhân độc lập, nên không phải làm thủ tục hủy bỏ đăng ký chi nhánh của công ty nước ngoài, mà làm thủ tục giải thể và thanh lý theo Luật Công ty. Phải tuân theo các thủ tục áp dụng cho công ty con như nghị quyết của cổ đông, người thanh lý, việc xử lý quyền chủ nợ và khoản nợ, việc kê khai thuế và việc phân chia tài sản còn lại. Ngay cả khi công ty mẹ đã quyết định rút khỏi Đài Loan, cũng không thể thu hồi vốn ngay lập tức mà bỏ qua tư cách pháp nhân của công ty con và quan hệ với các chủ nợ. Không nên coi thủ tục kết thúc và khối lượng công việc của hai hình thức này là như nhau.
Lựa chọn cuối cùng sẽ an toàn hơn nếu được xem xét trong điều kiện chuyên gia tại Đài Loan và chuyên gia tại nơi đặt trụ sở chính cùng chia sẻ một tập hợp tình tiết giống nhau. Nếu quý vị cung cấp kế hoạch kinh doanh, sơ đồ tổ chức, danh sách nhà đầu tư, các hợp đồng dự kiến, dòng tiền, việc bố trí nhân sự và kịch bản rút khỏi thị trường, họ có thể liên kết các vấn đề pháp lý, thuế, kế toán và ngoại hối để cùng kiểm tra. Sau khi thành lập, quý vị phải định kỳ kiểm tra xem hoạt động thực tế có khác đi so với cấu trúc đã chọn hay không.
Tài liệu chính thức
- Cơ sở dữ liệu pháp luật của Bộ Tư pháp Đài Loan (法務部) — Luật Công ty (公司法)
- Cơ sở dữ liệu pháp luật của Bộ Tư pháp Đài Loan — Điều 10 Luật Thuế Kinh doanh (營業稅法)
- Cơ sở dữ liệu pháp luật của Bộ Tư pháp Đài Loan — Luật Thuế Thu nhập (所得稅法)
- Bộ Tài chính Đài Loan — hướng dẫn khấu trừ tại nguồn đối với cổ tức trả cho cổ đông ở nước ngoài
- Bộ Tài chính Đài Loan — giải thích liên quan đến lợi nhuận của chi nhánh công ty nước ngoài
- Bộ Tài chính Đài Loan — hướng dẫn về việc loại trừ khỏi diện kê khai lợi nhuận chưa phân phối
- Bộ Tài chính Đài Loan — hướng dẫn về Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc
- Cơ sở dữ liệu pháp luật của Bộ Tư pháp Đài Loan — Điều 10-1 Điều lệ Đổi mới Công nghiệp (產業創新條例)
- Sở Giao dịch Chứng khoán Đài Loan — tiêu chuẩn niêm yết
- Invest Taiwan — thủ tục đầu tư và đăng ký chi nhánh của công ty nước ngoài
Hướng dẫn liên quan
- Dịch vụ đầu tư và thành lập công ty tại Đài Loan
- Cơ bản về thành lập công ty tại Đài Loan
- Liên hệ trao đổi vụ việc
Bài viết này là tài liệu mang tính giáo dục nhằm giải thích những khác biệt chung giữa công ty con tại Đài Loan và chi nhánh của công ty nước ngoài, không phải là ý kiến pháp lý hay ý kiến về thuế cho một vụ việc cụ thể. Vì pháp luật được áp dụng và cách xử lý về thuế có thể thay đổi tùy theo nơi đặt trụ sở của nhà đầu tư và của trụ sở chính, nội dung kinh doanh, giao dịch và dòng tiền, các điều kiện áp dụng hiệp định cùng thực tiễn mới nhất của cơ quan có thẩm quyền, xin quý vị xác nhận tài liệu chính thức mới nhất và hoàn cảnh cụ thể của mình trước khi tiến hành thành lập, đầu tư, ký kết hợp đồng, chia cổ tức hoặc chuyển tiền.
Luật sư Wei Tseng (曾雋崴)
Frequently Asked Questions
- Có thể cho cá nhân người Đài Loan hoặc pháp nhân Đài Loan tham gia làm cổ đông của chi nhánh tại Đài Loan không?
- Chi nhánh là một bộ phận của công ty nước ngoài, nên bản thân chi nhánh không tồn tại cổ đông. Nếu muốn cùng người thứ ba góp vốn kinh doanh tại Đài Loan, quý vị phải xem xét các phương án như thành lập công ty con tại Đài Loan và quyết định thành phần cổ đông. Trách nhiệm, quyền biểu quyết, việc huy động vốn, giấy phép và nghĩa vụ thuế phải được xác nhận theo quan hệ góp vốn và kế hoạch kinh doanh.
- Gánh nặng thuế của công ty con tại Đài Loan và chi nhánh tại Đài Loan khác nhau như thế nào?
- Công ty con và chi nhánh nói chung chịu thuế kinh doanh (營業稅) 5% và thuế thu nhập doanh nghiệp 20%. Khi công ty con tại Đài Loan chia cổ tức cho công ty mẹ ở nước ngoài, thuế suất khấu trừ tại nguồn theo pháp luật trong nước của Đài Loan là 21%; nếu đáp ứng các điều kiện áp dụng của Hiệp định thuế thu nhập Đài Loan–Hàn Quốc thì thuế suất trần là 10%. Việc chi nhánh Đài Loan của công ty nước ngoài chuyển lợi nhuận sau thuế về trụ sở chính không phải là chia cổ tức, nên về nguyên tắc không phát sinh khấu trừ tại nguồn bổ sung. Doanh nghiệp có trụ sở chính ở ngoài Đài Loan không thuộc đối tượng phải kê khai khoản thuế bổ sung 5% trên lợi nhuận chưa phân phối.
- Nếu muốn niêm yết tại Đài Loan hoặc được hưởng tín dụng thuế đầu tư thì nên chọn công ty con hay chi nhánh?
- Chi nhánh không phải là công ty phát hành độc lập, nên không thể trở thành chủ thể niêm yết tại Đài Loan. Công ty con muốn niêm yết phải đáp ứng các điều kiện do Luật Công ty (公司法) và sở giao dịch chứng khoán quy định. Ưu đãi thuế không được quyết định một cách nhất loạt chỉ dựa vào hình thức tổ chức. Đối với tín dụng thuế đầu tư (投資抵減) theo Điều 10-1 Điều lệ Đổi mới Công nghiệp (產業創新條例) và các chế độ tương tự, phải xác nhận riêng từng nội dung: khoản đầu tư thuộc đối tượng áp dụng, thời hạn nộp đơn, phương thức tín dụng thuế, việc áp dụng trùng lặp và mức trần số thuế.

