Bị xâm hại tình dục ở Đài Loan: khám, trình báo và người đi cùng
← Danh sách bài viếtBài viết về tố tụng hình sự Đài LoanThông tin pháp luật Đài Loan

Bị xâm hại tình dục ở Đài Loan: khám, trình báo và người đi cùng

7 phút đọc

Bạn có thể tìm hỗ trợ y tế và an toàn mà không cần tự xác định chính xác tội danh trước. Điều 6 Luật Phòng chống tội phạm xâm hại tình dục giao trung tâm địa phương phối hợp cứu trợ, hỗ trợ khám và thu thập chứng cứ, tư vấn tâm lý, nơi ở khẩn cấp cùng hỗ trợ pháp lý. Khi còn nguy hiểm tại nơi ở hoặc nơi làm, hãy nói rõ mình cần rời khỏi người gây ra hành vi.

Nếu bạn không hiểu tiếng Hoa, đề nghị phiên dịch tiếng Việt khi trình báo. Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định phiên dịch cho người không thông ngôn ngữ và áp dụng tương ứng cho những người khác được hỏi, trừ quy định riêng của luật. Không cần nhờ chính chủ thuê hoặc người đang bị tố cáo giải thích lời khai.

Cơ sở y tế và việc lấy chứng cứ

Theo Điều 14 của luật phòng chống xâm hại, cơ sở y tế không được vô cớ từ chối khám, điều trị và cấp giấy chứng nhận kiểm tra thương tích cho nạn nhân. Phải có nhân viên điều dưỡng đi cùng khi khám, đồng thời bảo vệ riêng tư và tạo môi trường phù hợp, an toàn.

Điều 17 yêu cầu có sự đồng ý của nạn nhân khi kiểm tra thương tích và lấy chứng cứ, với các ngoại lệ theo Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc khi nạn nhân không có ý thức hay không thể thể hiện ý chí. Trẻ em và người thuộc diện giám hộ có những quy định bổ sung. Bạn có thể yêu cầu giải thích việc gì sẽ được làm và được ghi nhận.

Nên kể với nhân viên y tế thời điểm, triệu chứng và điều còn nhớ; hỏi cách giữ những vật hoặc tài liệu có thể liên quan. Tin nhắn, lịch làm, thông tin ra vào nhà và việc bạn đã nói với ai sau sự việc cũng cần được giữ. Không phải mọi vụ đều có người tận mắt chứng kiến.

Hỗ trợ vẫn có thể cần thiết khi bạn đến khám muộn hoặc đã mất một loại chứng cứ. Kể đúng phần còn nhớ. Việc đánh giá chứng cứ thuộc cơ quan có thẩm quyền.

Hành vi và quan hệ giữa các bên

Điều 221 Bộ luật Hình sự quy định về giao cấu bằng bạo lực, cưỡng ép, đe dọa hoặc cách thức khác trái ý muốn của nạn nhân. Điều 224 xử lý hành vi dâm ô bằng những phương thức luật định. Phải xem hành vi cụ thể, không chỉ tên mà người gây ra gọi nó.

Trong quan hệ công việc, Điều 228 còn đặt ra trường hợp lợi dụng quyền lực hoặc cơ hội đối với người đang chịu sự giám sát, trợ giúp hay chăm sóc của mình do những quan hệ được luật liệt kê. Khi trình bày, nên nói rõ ai quyết định ca làm, tiền lương, chỗ ở hoặc việc tiếp tục tuyển dụng, và người đó đã nói hay làm gì. Không phải mọi người có chức danh quản lý đều tự động phạm tội theo điều này.

Với lời nói hoặc hành vi bị gọi là quấy rối ở nơi làm việc, còn cần kiểm tra kênh xử lý lao động và tính chất hành vi. Báo cho công ty chưa thay thế việc đề nghị cảnh sát điều tra một hành vi có dấu hiệu tội phạm. Nhu cầu chỗ ở an toàn cũng cần được nêu riêng: WDA có hướng dẫn tiếng Việt về bố trí nơi ở tạm, trong đó một số trường hợp lao động bị xâm hại hoặc đối xử bạo lực cần sự xác nhận, đánh giá của chính quyền địa phương.

Trường hợp vợ chồng có thời hạn cần chú ý

Người gây ra là chồng thì vụ việc có bị coi là chuyện riêng không? Điều 229-1 quy định tội theo Điều 221 hoặc 224 đối với vợ/chồng thuộc nhóm phải có yêu cầu xử lý. Đây là điều kiện tố tụng, không phải quyền của người chồng được ép buộc quan hệ.

Với nhóm cần yêu cầu, Điều 237 Bộ luật Tố tụng hình sự đặt hạn sáu tháng từ khi người có quyền biết người phạm tội. Không áp dụng thời hạn này đồng loạt cho mọi tội xâm hại tình dục. Điều 229-1 còn quy định trường hợp người phạm tội chưa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi thuộc Điều 227; cần phân biệt tuổi người phạm tội với tuổi nạn nhân.

Nếu có áp lực ký “giải quyết trong gia đình”, hãy đọc cả nội dung yêu cầu hoặc rút yêu cầu hình sự. Bài về rút yêu cầu sau hòa giải giải thích điều kiện và hậu quả. Cư trú theo hôn nhân cần kiểm tra riêng theo bài về ly hôn, bạo lực và thẻ ARC.

Người đi cùng, bảo mật và việc đối diện bị cáo

Bạn có thể có người đi cùng. Điều 18 cho phép người được liệt kê, gồm nhân viên xã hội hoặc người bạn tin cậy, có mặt cùng khi điều tra, xét xử và nêu ý kiến nếu bạn đồng ý. Người đó không được thuộc trường hợp bị loại trừ, như chính là người bị tình nghi hoặc sự có mặt bị cơ quan đánh giá là cản trở điều tra.

Thông tin nhận dạng mà người làm công vụ hoặc công việc có được phải được bảo mật, trừ khi luật quy định khác, theo Điều 15. Nghĩa vụ bảo mật không phải cam kết rằng sẽ không có bất kỳ thông báo nào: Điều 11 yêu cầu những người làm nghề, chức vụ được liệt kê báo trường hợp nghi xâm hại cho cơ quan địa phương. Hãy trao đổi về kênh liên lạc an toàn và ai có thể đọc điện thoại hoặc thư của bạn.

Khi cần khai tại tòa, Điều 23 cho phép biện pháp như lấy lời khai ngoài phòng xử hoặc dùng phương tiện nghe nhìn, cách ly phù hợp. Với một số nạn nhân dễ bị tổn thương và có nguy cơ không thể trình bày tự do, đầy đủ, luật yêu cầu áp dụng biện pháp cách ly. Nên nêu khó khăn cụ thể để cơ quan xem xét, không chờ đến lúc đối diện người bị tố cáo mới nói.

Trước buổi làm việc tiếp theo, ghi rõ ngôn ngữ cần dùng, người muốn đi cùng và nơi có thể nhận thông báo an toàn. Nếu chưa thể về chỗ ở cũ, thông tin đó cần đến được nhân viên đang hỗ trợ, cùng với giấy tờ và lịch hẹn của vụ án.

Nguồn chính thức

Ngày kiểm tra: 8/10/2026. Nội dung hình sự được đối chiếu với văn bản tiếng Hoa; điều kiện hỗ trợ lao động áp dụng theo hồ sơ và cơ quan phụ trách.

Câu hỏi thường gặp

Người gây ra hành vi là chồng thì có trình báo được không?
Có. Điều 229-1 quy định tội theo Điều 221 hoặc 224 đối với vợ/chồng thuộc nhóm phải có yêu cầu xử lý. Thời hạn yêu cầu theo Điều 237 là sáu tháng từ khi người có quyền biết người phạm tội; việc đã kết hôn không tạo quyền ép buộc quan hệ.
Tôi muốn một người tin cậy đi cùng khi khai thì có được không?
Điều 18 Luật Phòng chống tội phạm xâm hại tình dục cho phép người được liệt kê, gồm người bạn tin cậy, đi cùng và nêu ý kiến khi bạn đồng ý. Có ngoại lệ nếu người đi cùng là người bị tình nghi, bị cáo hoặc bị cơ quan có thẩm quyền đánh giá là cản trở điều tra.

Bài viết này cung cấp thông tin chung, không phải là tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể.