Bài viết dựa trên một tin tức. Tình hình hoặc quy định có thể đã thay đổi sau ngày đăng.
Người đã rời chủ thuê ở Đài Loan từ lâu, kiếm được việc gì thì làm việc ấy để sống, có thể đang lo vì mức phạt mới của Việt Nam. Người nhà ở quê cũng có thể đang tìm câu trả lời cho con em mình.
Theo Đài Truyền hình Công cộng Đài Loan (PTS, 公視) ngày 4/9/2026, gần đây nhiều lao động di trú bỏ trốn (失聯移工) đã ra trình diện tại các trạm phục vụ của Sở Di dân (移民署, NIA). PTS gắn việc này với nghị định của Việt Nam có hiệu lực từ 10/9/2026: người lao động ở lại nước ngoài trái phép sau khi hết hợp đồng có thể bị phạt đến 100 triệu đồng, tương đương khoảng 120.000 Đài tệ theo cách quy đổi của PTS. Bản tin cũng dẫn số liệu tháng 7: gần 60.000 lao động Việt Nam đang bỏ trốn ở Đài Loan.
Một cán bộ Sở Di dân nói với PTS rằng tiêu chuẩn của Bộ Nội vụ (內政部), sửa đổi và có hiệu lực từ 1/10/2025, cho giảm một nửa tiền phạt nếu người ở quá hạn tự ra trình diện trước khi bị bắt. Cũng theo bản tin này, người đủ điều kiện và làm đúng thủ tục có thể tự xuất cảnh mà không bị Sở Di dân tạm giữ, trục xuất. Ở Việt Nam, báo Người Đưa Tin đã đưa tin về mức phạt này ngày 29/8/2026.
Không phải cứ tự trình diện là được giảm một nửa tiền phạt. Lệnh cấm nhập cảnh do Sở Di dân quyết định riêng.
Mức phạt theo Nghị định 283/2026
Nghị định số 283/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 15/7/2026 và có hiệu lực từ 10/9/2026. Theo Điều 53 khoản 2, người lao động tự ý ở lại nước ngoài trái phép sau khi hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề kết thúc bị phạt từ 80 đến 100 triệu đồng. Quy định này không áp dụng với người ở lại vì bị đe dọa, cưỡng ép dưới bất kỳ hình thức nào, hoặc trường hợp thuộc diện truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 53 khoản 3 điểm c quy định mức phạt từ 80 đến 100 triệu đồng đối với cá nhân cưỡng ép, dụ dỗ, lôi kéo hoặc lừa người lao động Việt Nam ở lại nước ngoài trái phép mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 7 khoản 1, tổ chức có cùng hành vi bị phạt gấp đôi.
Cơ quan Việt Nam quyết định việc áp dụng nghị định trong từng trường hợp. Văn phòng chúng tôi tư vấn về các quy định của Đài Loan áp dụng cho người lao động trong thời gian họ còn ở đây.
Mất giấy phép làm việc và ở quá hạn
Khi người lao động nước ngoài nghỉ việc liên tục ba ngày và không liên lạc được, giấy phép làm việc bị thu hồi theo Điều 73 Luật Dịch vụ việc làm (就業服務法). Người bị thu hồi giấy phép bị buộc rời khỏi Đài Loan và “không được làm việc tại Đài Loan nữa”, trừ khi luật có quy định khác (Điều 74).
Làm việc không có giấy phép là vi phạm Điều 43. Theo Điều 68, người lao động bị phạt từ 30.000 đến 150.000 Đài tệ và “không được làm việc nữa”.
Ở quá hạn bị phạt từ 10.000 đến 50.000 Đài tệ, theo Điều 74-1 Luật Xuất nhập cảnh và Di dân (入出國及移民法). Hướng dẫn thủ tục xuất cảnh cho người ở quá hạn của Sở Di dân nêu các mức đang áp dụng: 10.000 Đài tệ nếu quá hạn đến 10 ngày, 20.000 Đài tệ nếu 11–30 ngày, 30.000 Đài tệ nếu 31–60 ngày, 40.000 Đài tệ nếu 61–90 ngày và 50.000 Đài tệ nếu từ 91 ngày trở lên.
Sở Di dân có thể trục xuất hoặc buộc người đó tự xuất cảnh trong vòng mười ngày. Trước khi trục xuất, người đó phải được cho cơ hội trình bày ý kiến; luật sư và phiên dịch có thể cùng tham dự (Điều 36).
Tạm giữ (暫予收容) tối đa 15 ngày chỉ được áp dụng khi việc đưa người đó ra khỏi Đài Loan gặp khó khăn rõ ràng, và người đó không có giấy tờ đi lại, có thể bỏ trốn, không chịu tự rời đi hoặc bị chính phủ nước ngoài truy nã. Thay cho tạm giữ, Sở Di dân có thể yêu cầu người bảo lãnh hoặc tiền bảo đảm, kèm điều kiện như trình diện định kỳ (Điều 38). Muốn tạm giữ lâu hơn thì phải có quyết định của tòa án (Điều 38-4).
Nếu người đó từng ở quá hạn hoặc làm việc bất hợp pháp, Sở Di dân còn có thể từ chối cho nhập cảnh sau này, ít nhất một năm và không quá bảy năm, tính từ ngày hôm sau ngày xuất cảnh (Điều 18).
Tự ra trình diện và điều kiện giảm phạt
Việc giảm, miễn tiền phạt được quy định tại Tiêu chuẩn của Bộ Nội vụ về xác định lý do đặc biệt và giảm, miễn xử phạt theo Điều 74-1 (入出國及移民法第七十四條之一特殊事由之認定及減免處罰標準). Theo Điều 3, có hiệu lực từ 1/10/2025, Bộ Nội vụ có thể giảm một nửa tiền phạt quá hạn cho người tự đến trình diện (自行到案) trước khi bị Sở Di dân hay cơ quan thực thi pháp luật khác bắt. Người đó đồng thời phải cam kết hợp tác làm mọi thủ tục xuất cảnh và nộp phạt đúng hạn.
Không phải cứ ra trình diện là được giảm một nửa. Quy định này cũng không dành cho người có thể xin cư trú lại thay vì xuất cảnh, chẳng hạn người nước ngoài quá hạn cư trú chưa đến 30 ngày mà lý do cư trú ban đầu vẫn còn (Điều 31 Luật Xuất nhập cảnh và Di dân). Nếu người đó không nộp phạt đúng hạn, không hợp tác xin giấy tờ đi lại để về nước hoặc không xuất cảnh đúng hạn, phần giảm bị hủy và người đó phải nộp phần chênh lệch.
Điều 4 cho phép miễn tiền phạt đối với nạn nhân buôn người ở quá hạn do bị buôn bán. Trường hợp ở quá hạn do thiên tai, dịch bệnh, tai nạn nghiêm trọng, tra tấn, đối xử tàn ác hoặc vô nhân đạo, hay bất khả kháng khác cũng có thể được miễn phạt nếu có chứng cứ. Người tố giác kèm bằng chứng cụ thể dẫn đến việc phát hiện hành vi thuê, môi giới hoặc chứa chấp bất hợp pháp cũng có thể được miễn tiền phạt.
Theo hướng dẫn của Sở Di dân, đương sự phải trực tiếp làm thủ tục, trừ người chưa thành niên và người bệnh nặng. Hồ sơ gồm đơn, hộ chiếu và thị thực; tiền phạt được nộp tại trạm phục vụ. Người từng làm việc bất hợp pháp còn phải có giấy chứng minh đã nộp thuế hoặc không phải nộp thuế.
Người quá hạn đến 90 ngày có thể làm thủ tục tại trạm phục vụ hoặc văn phòng biên phòng ở sân bay, cảng. Từ 91 ngày trở lên, người làm thủ tục phải khai báo tại đội chuyên trách địa phương của Sở Di dân (專勤隊), sau đó hoàn tất thủ tục tại trạm phục vụ.
Người nhận tiền để “lo” cho người lao động ra trình diện, hoặc hứa không bị cấm nhập cảnh, không quyết được tiền phạt hay lệnh cấm. Tiền phạt được xác định theo các quy định nêu trên, còn lệnh cấm nhập cảnh do Sở Di dân quyết định.
Bị ép buộc, bị lừa hoặc bị khống chế bằng nợ
Người từng bị ép buộc, bị lừa hoặc bị khống chế bằng nợ nên nói rõ chuyện này sớm. Theo Luật Phòng chống buôn người (人口販運防制法), đối với người từ 18 tuổi, Điều 2 nêu ba yếu tố cần xem xét. Đó là mục đích bóc lột; thủ đoạn như đe dọa, giam giữ, lừa dối, giữ giấy tờ quan trọng hoặc ràng buộc bằng nợ một cách không chính đáng; và một hành vi được luật liệt kê như tuyển mộ, vận chuyển, môi giới hoặc chứa chấp người để cưỡng bức lao động hay làm công việc có thù lao không tương xứng rõ rệt.
Người được cho là nạn nhân không bị cưỡng chế trục xuất trước khi có quyết định xác định tư cách nạn nhân, kể cả trong quá trình giải quyết khiếu nại (Điều 11). Người đã được xác định là nạn nhân có thể xin giấy phép cư trú một năm và trực tiếp xin giấy phép làm việc. Giấy phép cư trú có thể được gia hạn tùy theo tiến độ điều tra hoặc xét xử (Điều 14). Trách nhiệm đối với hành vi phạm tội xảy ra vì bị buôn bán có thể được giảm hoặc miễn (Điều 27).
Chủ thuê không được giữ trái phép hộ chiếu, thẻ cư trú hay tài sản của người lao động (Điều 57 Luật Dịch vụ việc làm). Công ty môi giới cũng không được giữ giấy tờ hay tài sản khi người lao động không đồng ý (Điều 40).
Người bị khai báo là đã bỏ trốn trong khi thực tế không hề bỏ trốn có thể khiếu nại lên cơ quan lao động địa phương. Nếu tin báo được xác định là sai, việc thu hồi giấy phép và lệnh buộc rời khỏi Đài Loan sẽ bị hủy (Điều 56).
Lương còn bị nợ thì đòi thế nào
Các quy định của Luật Tiêu chuẩn lao động dưới đây chỉ áp dụng nếu công việc thuộc phạm vi luật này. Lao động chăm sóc tại gia hiện không thuộc phạm vi đó. Lương và quyền lợi khi chấm dứt hợp đồng của người chăm sóc tại gia cần đối chiếu hợp đồng và các quy định áp dụng riêng.
Tiền công của công việc đã làm, về nguyên tắc, phải được trả đầy đủ và trực tiếp cho người lao động (Điều 22 Luật Tiêu chuẩn lao động (勞動基準法)). Chủ thuê không được giữ trước tiền lương để phạt hay bồi thường (Điều 26). Nếu lương không được trả đúng hạn, cơ quan lao động có thể buộc chủ thuê trả lương trong thời hạn ấn định (Điều 27).
Người lao động có thể khiếu nại lên cơ quan này mà không bị trả đũa (Điều 74), hoặc xin hòa giải tại chính quyền địa phương nơi làm việc (Điều 9 Luật Xử lý tranh chấp lao động (勞資爭議處理法)).
Chủ thuê có thể chấm dứt hợp đồng không cần báo trước khi người lao động nghỉ không có lý do chính đáng ba ngày liên tục, hoặc sáu ngày trong một tháng. Chủ thuê chỉ có thể chấm dứt hợp đồng theo căn cứ này trong vòng 30 ngày kể từ khi biết sự việc (Điều 12). Trong trường hợp đó, chủ thuê không phải trả trợ cấp thôi việc hay tiền báo trước (Điều 18).
Nếu bị thương khi làm việc, người lao động có thể tìm hiểu thêm về bồi thường tai nạn lao động cho lao động di trú.
Trước khi rời Đài Loan, người lao động tuyệt đối không nên bán hay cho mượn tài khoản ngân hàng hoặc thẻ ATM (xem thêm: cho mượn tài khoản ngân hàng ở Đài Loan).
Trách nhiệm của chủ thuê và công ty môi giới
Sau khi người lao động vắng mặt và mất liên lạc ba ngày liên tục, chủ thuê phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan địa phương, cơ quan di dân và cảnh sát trong vòng ba ngày (Điều 56 Luật Dịch vụ việc làm). Không thông báo có thể bị phạt từ 30.000 đến 150.000 Đài tệ (Điều 68).
Nếu người lao động mất liên lạc khi giấy phép còn hiệu lực vì lý do không thuộc trách nhiệm của chủ thuê, chủ thuê có thể xin tuyển người thay thế khi đã qua ba tháng kể từ lúc thông báo đúng quy định mà vẫn chưa tìm thấy người lao động. Tuy nhiên, không được tuyển thay thế nếu giấy phép cũ còn thời hạn dưới sáu tháng. Giấy phép của người thay thế chỉ được cấp cho phần thời hạn còn lại. Đối với lao động chăm sóc tại gia, căn cứ và thời hạn tuyển người thay thế được quy định riêng (Điều 58).
Hành vi chứa chấp người nước ngoài để làm việc bất hợp pháp (Điều 44), hoặc thuê người nước ngoài không có giấy phép hợp lệ hay chỉ được phép làm cho chủ thuê khác (Điều 57), bị phạt từ 150.000 đến 750.000 Đài tệ. Tái phạm trong vòng năm năm có thể bị phạt tù đến ba năm (Điều 63).
Chứa chấp, che giấu người ở quá hạn nhằm để họ thực hiện hoạt động trái pháp luật có thể bị phạt từ 60.000 đến 300.000 Đài tệ và có thể bị phạt theo từng lần vi phạm (Điều 74-1 Luật Xuất nhập cảnh và Di dân). Nếu vẫn giữ hộ chiếu của người lao động cũ, chủ thuê cần trả lại; pháp luật cấm giữ trái phép hộ chiếu.
Trước khi ra Sở Di dân
Muốn rõ thủ tục trước khi đến Sở Di dân, người lao động có thể nhờ luật sư xem hồ sơ. Hovering International Law Firm (昊鼎國際法律事務所) ở Đài Bắc có thể hỗ trợ chuẩn bị giấy tờ và lời khai, cũng như tham gia các buổi làm việc mà pháp luật cho phép luật sư tham dự. Luật sư cũng có thể xem có dấu hiệu cưỡng bức lao động hay khống chế người lao động bằng nợ không, rồi kiểm tra lương còn nợ và khoản bồi thường tai nạn lao động cần đòi trước khi xuất cảnh. Với chủ thuê và công ty môi giới, chúng tôi xem xét thủ tục thông báo, hồ sơ xin tuyển thay thế và cách tuyển dụng.
Muốn hỏi về việc của mình tại Đài Loan, trong email đầu tiên bạn ghi giúp quốc tịch, ngày nhập cảnh, tên chủ thuê và công ty môi giới, thời điểm rời công việc, còn giữ hộ chiếu và thẻ cư trú hay không; cho biết đã nhận những giấy tờ nào từ Sở Di dân, cảnh sát hoặc cơ quan lao động, và nêu lương còn nợ hay thương tích nếu có. Người nhà có thể viết thay; xin cho biết thêm bạn thoải mái nhất khi trao đổi bằng ngôn ngữ nào.
Luật sư Wei Tseng (曾雋崴) phụ trách tiếp nhận yêu cầu tư vấn; bạn có thể liên hệ bà qua wei@hoveringlaw.com.tw. Văn phòng tại: 103 臺北市大同區承德路一段35號7樓之2 (7F-2, No. 35, Sec. 1, Chengde Rd., Datong Dist., Taipei City 103, Taiwan). Lựa chọn phù hợp còn tùy hoàn cảnh cụ thể của từng người.
Nguồn tham khảo
- Nghị định số 283/2026/NĐ-CP (Công báo Chính phủ Việt Nam, toàn văn): https://congbao.chinhphu.vn/van-ban/nghi-dinh-so-283-2026-nd-cp-470103.htm
- Nghị định số 283/2026/NĐ-CP (Cổng thông tin Chính phủ Việt Nam): https://chinhphu.vn/?docid=218871&pageid=27160
- Luật Xuất nhập cảnh và Di dân, Điều 18: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080132&flno=18
- Luật Xuất nhập cảnh và Di dân, Điều 31: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080132&flno=31
- Luật Xuất nhập cảnh và Di dân, Điều 36: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080132&flno=36
- Luật Xuất nhập cảnh và Di dân, Điều 38: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080132&flno=38
- Luật Xuất nhập cảnh và Di dân, Điều 38-4: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080132&flno=38-4
- Luật Xuất nhập cảnh và Di dân, Điều 74-1: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080132&flno=74-1
- Tiêu chuẩn xác định lý do đặc biệt và giảm, miễn xử phạt theo Điều 74-1 (toàn văn): https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawAll.aspx?pcode=D0080224
- Tiêu chuẩn nói trên, Điều 3: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080224&flno=3
- Tiêu chuẩn nói trên, Điều 4: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080224&flno=4
- Sở Di dân, thông báo sửa Điều 3 (có hiệu lực 1/10/2025): https://www.immigration.gov.tw/5385/7229/7235/398562/
- Sở Di dân, thủ tục xuất cảnh cho người quá hạn: https://www.immigration.gov.tw/5385/7244/7250/7317/%E5%85%B6%E4%BB%96/30067
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 40: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=40
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 43: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=43
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 44: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=44
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 56: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=56
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 57: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=57
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 68: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=68
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 73: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=73
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 74: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=74
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 58: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=58
- Luật Dịch vụ việc làm, Điều 63: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0090001&flno=63
- Luật Phòng chống buôn người (toàn văn): https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawAll.aspx?pcode=D0080177
- Luật Phòng chống buôn người, Điều 2: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080177&flno=2
- Luật Phòng chống buôn người, Điều 11: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080177&flno=11
- Luật Phòng chống buôn người, Điều 14: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080177&flno=14
- Luật Phòng chống buôn người, Điều 27: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=D0080177&flno=27
- Luật Tiêu chuẩn lao động, Điều 12: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0030001&flno=12
- Luật Tiêu chuẩn lao động, Điều 18: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0030001&flno=18
- Luật Tiêu chuẩn lao động, Điều 22: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0030001&flno=22
- Luật Tiêu chuẩn lao động, Điều 26: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0030001&flno=26
- Luật Tiêu chuẩn lao động, Điều 27: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0030001&flno=27
- Luật Tiêu chuẩn lao động, Điều 74: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0030001&flno=74
- Luật Xử lý tranh chấp lao động, Điều 9: https://law.moj.gov.tw/LawClass/LawSingle.aspx?pcode=N0020007&flno=9
- Bộ Lao động Đài Loan, hỏi đáp về lao động nước ngoài (phạm vi áp dụng Luật Tiêu chuẩn lao động): https://www.mol.gov.tw/1607/28162/28166/28180/28182/28188/29020/
- Đài Truyền hình Công cộng Đài Loan (PTS), ngày 4/9/2026: https://news.pts.org.tw/article/825622
- Báo Người Đưa Tin, ngày 29/8/2026: https://diendanphapluat.nguoiduatin.vn/nguoi-lao-dong-o-lai-nuoc-ngoai-trai-phep-khi-het-hop-dong-co-the-bi-phat-toi-100-trieu-dong-a49636.html
Xem thêm:
Ngày kiểm tra: 30/9/2026.
Câu hỏi thường gặp
- Lao động bỏ trốn có tự động được giảm một nửa tiền phạt quá hạn khi tự trình diện tại Sở Di dân Đài Loan không?
- Không phải cứ ra trình diện là được giảm một nửa. Theo Điều 3 của Tiêu chuẩn về giảm, miễn xử phạt theo Luật Xuất nhập cảnh và Di dân do Bộ Nội vụ ban hành, Bộ Nội vụ có thể giảm một nửa tiền phạt quá hạn cho người tự ra trình diện trước khi bị bắt, cam kết hợp tác làm mọi thủ tục xuất cảnh và nộp phạt đúng hạn. Nếu người đó không nộp phạt đúng hạn, không hợp tác xin giấy tờ đi lại để về nước hoặc không xuất cảnh đúng hạn, phần giảm bị hủy và người đó phải nộp phần chênh lệch.
- Sau khi về nước, tôi có thể quay lại Đài Loan làm việc không?
- Có thể sẽ khó. Theo Điều 18 Luật Xuất nhập cảnh và Di dân, Sở Di dân có thể từ chối cho người từng ở quá hạn hoặc làm việc bất hợp pháp nhập cảnh ít nhất một năm và không quá bảy năm, tính từ ngày hôm sau ngày xuất cảnh. Luật Dịch vụ việc làm còn quy định người bị thu hồi giấy phép làm việc bị buộc rời khỏi Đài Loan và không được làm việc tại Đài Loan nữa, trừ khi luật này có quy định khác (Điều 74). Điều 68 cũng dùng cách viết tương tự về việc không được làm việc nữa đối với người nước ngoài làm việc không có giấy phép. Trước khi trả tiền cho bất kỳ ai để xin việc mới, cần tìm hiểu kỹ trường hợp của mình.
- Nghị định 283/2026 của Việt Nam có áp dụng cho mọi người ở lại Đài Loan sau khi hết hợp đồng không?
- Điều 53 khoản 2 Nghị định 283/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ 10/9/2026, quy định mức phạt từ 80 đến 100 triệu đồng đối với người lao động tự ý ở lại nước ngoài trái phép sau khi hợp đồng lao động hoặc hợp đồng đào tạo nghề kết thúc. Quy định này không áp dụng với người ở lại vì bị đe dọa, cưỡng ép hay trường hợp thuộc diện truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Việt Nam quyết định việc áp dụng quy định này cho từng trường hợp; văn phòng chúng tôi tư vấn về phần pháp luật Đài Loan.
Bài viết này cung cấp thông tin chung, không phải là tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể.



