Bài viết dựa trên một tin tức. Tình hình hoặc quy định có thể đã thay đổi sau ngày đăng.
Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP ngày 15/7/2026 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Theo Điều 66 của bản PDF có chữ ký số, nghị định có hiệu lực từ ngày 10/9/2026 và Nghị định 12/2022/NĐ-CP hết hiệu lực từ cùng ngày. Với doanh nghiệp Đài Loan cử quản lý, kỹ sư sang nhà máy tại Việt Nam, điều khoản cần đọc trước là Điều 13 về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Người lao động và doanh nghiệp bị phạt riêng
Khoản 3 Điều 13 phạt từ 15 đến 25 triệu đồng đối với người lao động nước ngoài làm việc mà không có giấy phép lao động hoặc giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động, hoặc vẫn dùng giấy phép, giấy xác nhận đã hết hiệu lực. Người vi phạm khoản này còn có thể bị trục xuất theo điểm b khoản 6 cùng điều.
Doanh nghiệp sử dụng người đó bị xử phạt độc lập theo khoản 5 Điều 13, với mức tăng theo số người vi phạm: 30–45 triệu đồng với 01 đến 10 người, 45–60 triệu đồng với 11 đến 20 người và 60–75 triệu đồng từ 21 người trở lên. Khoản 1 Điều 7 quy định các mức này là mức phạt đối với cá nhân, còn tổ chức bị phạt gấp 02 lần. Vì vậy, một công ty tại Việt Nam để một kỹ sư Đài Loan tiếp tục làm việc khi giấy phép đã hết hạn có thể bị phạt 60–90 triệu đồng. Bản tóm tắt tiếng Anh của VisaVerge (24/8/2026) nêu mức "tối đa 75 triệu đồng" cho người sử dụng lao động; con số này trùng với mức cá nhân tại khoản 5 Điều 13, và bài viết đó không đề cập việc tổ chức bị phạt gấp đôi theo Điều 7.
Người sử dụng lao động sửa chữa, làm sai lệch tài liệu trong hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, gia hạn giấy phép lao động hay giấy xác nhận mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc dùng giấy tờ giả trong hồ sơ đó, bị phạt 40–60 triệu đồng (khoản 4 Điều 13), tức 80–120 triệu đồng đối với tổ chức; giấy tờ bị sửa chữa hoặc giả mạo bị tịch thu (điểm a khoản 6 Điều 13). Nếu việc dùng giấy tờ giả có dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (điểm b khoản 2 Điều 4).
Giấy phép ghi một công việc, thực tế làm công việc khác
Có giấy phép lao động rồi cũng chưa chắc đã an toàn. Khoản 2 Điều 13 phạt người sử dụng lao động từ 5 đến 10 triệu đồng cho mỗi người lao động, tối đa 75 triệu đồng tính theo mức cá nhân, khi sử dụng người lao động nước ngoài làm việc không đúng với nội dung ghi trên giấy phép lao động hoặc giấy xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép. Rủi ro này phát sinh khi giấy phép được cấp cho một chức danh nhưng người được cử sang kiêm nhiệm hoặc chuyển sang công việc khác mà hồ sơ không được điều chỉnh. Cùng khoản này phạt việc không thu hồi, không nộp lại giấy phép hoặc giấy xác nhận theo Điều 31 và Điều 33 Nghị định 219/2025/NĐ-CP, thường gặp khi nhân sự kết thúc nhiệm kỳ và về nước.
Khoản 1 Điều 13 phạt 1–3 triệu đồng khi người sử dụng lao động không thông báo, thông báo trễ hoặc thiếu nội dung theo Nghị định 219/2025/NĐ-CP. Các trường hợp được nêu gồm người lao động nước ngoài không phải làm thủ tục cấp giấy xác nhận, và người đã có giấy phép hoặc giấy xác nhận nhưng làm việc cho cùng người sử dụng lao động tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Với tổ chức, các mức này cũng nhân đôi.
Vi phạm bắt đầu trước ngày 10/9/2026
Khoản 2 Điều 67 áp dụng Nghị định 283 cho hành vi xảy ra trước ngày nghị định có hiệu lực nhưng vẫn đang diễn ra sau ngày đó. Một kỹ sư có giấy phép hết hạn từ tháng 8/2026 mà vẫn làm việc sau ngày 10/9/2026 vì vậy bị xét theo các mức mới. Hành vi đã kết thúc trước ngày 10/9/2026 thì xử lý theo văn bản có hiệu lực tại thời điểm vi phạm (khoản 1 Điều 67). Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về lao động là 01 năm (điểm a khoản 4 Điều 3).
Công ty mẹ ở Đài Loan và pháp nhân tại Việt Nam
Các khoản phạt tại Điều 13 hướng vào người sử dụng lao động tại Việt Nam và chính người lao động nước ngoài. Khi pháp nhân Việt Nam bị phạt, việc ai gánh chi phí và có tiếp tục cử người hay không là câu hỏi giữa công ty mẹ và công ty tại Việt Nam. Câu hỏi đó dễ trả lời hơn nếu văn bản cử nhân sự đã ghi rõ pháp nhân tiếp nhận tại Việt Nam, chức danh và địa điểm làm việc dự kiến, cách phân bổ chi phí phát sinh và quyền tạm dừng việc cử người.
Hovering hỗ trợ trong phạm vi nào
Hovering International Law Firm là văn phòng luật tại Đài Loan. Văn phòng có thể rà soát văn bản cử nhân sự phía Đài Loan và phối hợp với luật sư Việt Nam để đối chiếu danh sách nhân sự được cử sang với Điều 13 Nghị định 283 và Nghị định 219/2025/NĐ-CP.
Gửi email cho luật sư Wei Tseng (曾雋崴) tại wei@hoveringlaw.com.tw, kèm danh sách người được cử (vai trò/địa điểm), giấy phép hiện có và tên pháp nhân Việt Nam. Văn phòng: 103 臺北市大同區承德路一段35號7樓之2 (7F-2, No. 35, Sec. 1, Chengde Rd., Datong Dist., Taipei City 103, Taiwan). Bài viết là thông tin chung, không thay thế tư vấn cho từng trường hợp.
Nguồn
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ — Nghị định 283/2026/NĐ-CP và bản PDF có chữ ký số — Điều 3, 4, 7 (khoản 1, khoản 2), 13, 66, 67.
- VisaVerge, 24/8/2026 — bản tóm tắt thứ cấp bằng tiếng Anh; bài viết không phân biệt mức phạt cá nhân và tổ chức.
Ngày kiểm tra: 2 tháng 10 năm 2026
Câu hỏi thường gặp
- Nghị định 283 có hiệu lực từ khi nào?
- Từ ngày 10/9/2026 theo khoản 1 Điều 66. Cùng ngày đó, Nghị định 12/2022/NĐ-CP hết hiệu lực (khoản 4 Điều 66).
- Doanh nghiệp tại Việt Nam bị phạt bao nhiêu nếu một kỹ sư Đài Loan làm việc khi giấy phép lao động đã hết hạn?
- Khoản 5 Điều 13 quy định mức 30–45 triệu đồng khi vi phạm với 01 đến 10 người. Đây là mức phạt đối với cá nhân; theo khoản 1 Điều 7, tổ chức bị phạt gấp đôi, tức 60–90 triệu đồng. Bản thân người lao động còn có thể bị phạt riêng 15–25 triệu đồng và bị trục xuất.
- Văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của công ty Đài Loan tại Việt Nam có bị phạt gấp đôi không?
- Có. Điểm b khoản 2 Điều 7 liệt kê chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam trong số các tổ chức bị phạt tiền gấp 02 lần mức phạt đối với cá nhân, cùng với doanh nghiệp được thành lập theo pháp luật Việt Nam.
Bài viết này cung cấp thông tin chung, không phải là tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể.



