Một bàn làm việc giả tưởng với cuốn hộ chiếu úp mặt, hai phong bì trắng không chữ và một mũ bảo hộ ở góc, không logo và không dòng chữ đọc được
← Pháp luật qua tin tứcPháp luật qua tin tức

Hộ chiếu Việt Nam và hai giấy mới khi sang Đài Loan thực hiện hợp đồng

Khoảng 8 phút đọc

Cảnh hư cấu

Bài viết dựa trên thông tin báo chí. Tình hình và quy định pháp luật có thể đã thay đổi sau ngày đăng.

Việt Nam có tên trong câu miễn trừ của văn bản mới, cùng Indonesia, Philippines và Thái Lan, nhưng bốn nước này lại là những nước duy nhất không được miễn theo quốc tịch. Câu đó mới có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 2026.

Lệnh của Bộ Lao động, số 勞動發事字第1150513656A號, sửa điểm 2 của văn bản 「雇主申請聘僱第一類外國人其他應備文件」 và có hiệu lực ngay trong ngày ban hành. Sở Lao động huyện Chương Hóa chuyển tiếp lệnh này ngày 16 tháng 10 và ghi lý do: tăng giấy tờ khi xin cho người nước ngoài sang Đài Loan thực hiện hợp đồng, để quản chặt hơn người đang thực hiện hợp đồng tại Đài Loan và bảo vệ quyền của họ.

Hai giấy mà hộ chiếu Việt Nam không được bỏ qua chỉ vì là "đi công tác"

Ở mục thực hiện hợp đồng (履約工作), danh sách trên Công báo có tám nhóm giấy. Nhóm 7 là bản tường trình rằng người nước ngoài biết mình sang Đài Loan để làm việc (履約外國人知悉來臺從事工作聲明書). Kế hoạch thực hiện hợp đồng do đơn vị Đài Loan ký kết trong nước lập (國內訂約之事業機構出具之履約外國人契約執行計畫書) là nhóm 8.

Câu miễn ở cả hai nhóm giống nhau: miễn nếu quốc tịch trên hộ chiếu không phải Indonesia, Philippines, Việt Nam hoặc Thái Lan, hoặc nếu thời gian làm việc từ 90 ngày trở xuống. Chỉ cần đáp ứng một trong hai điều kiện là được miễn. Người mang hộ chiếu Việt Nam không dựa được vào điều kiện quốc tịch, nên chỉ còn điều kiện thời gian. Một chuyến 100 ngày của người mang hộ chiếu Việt Nam thì cả hai giấy đều phải có trong hồ sơ xin phép.

Bằng cấp và kinh nghiệm: mốc 31 ngày và 90 ngày

Nhóm 6 của cùng mục là bản sao bằng cấp và giấy chứng minh kinh nghiệm của người sang thực hiện hợp đồng. Giấy này nộp theo quy định dành cho công việc chuyên môn hoặc kỹ thuật ở mục 1. Miễn khi thời gian làm việc từ 31 ngày trở lên và từ 90 ngày trở xuống.

Chỉ từ 31 đến 90 ngày.

Với chuyến từ 30 ngày trở xuống, câu miễn của nhóm 6 không áp dụng, nên theo chữ của văn bản vẫn phải kèm bằng cấp và giấy kinh nghiệm theo quy định ở mục 1. Điều 7 của Tiêu chuẩn thẩm định tư cách áp cho người được pháp nhân nước ngoài cử làm việc trong phạm vi Điều 4 của tiêu chuẩn đó, để thực hiện hợp đồng nhận thầu, mua bán hoặc hợp tác kỹ thuật. Kỳ từ 90 ngày trở xuống thì người đó không bị Điều 5 ràng buộc, trừ khi cộng dồn một năm trước ngày nộp với kỳ lần này đã vượt 90 ngày. Lúc đó phải đáp ứng một trong các điểm 1, 2 hoặc 4 của Điều 5. Điểm 3 không thuộc yêu cầu đó. Văn bản không nói rõ giấy nào ở mục 1 sẽ được chấp nhận cho một chuyến ngắn như vậy khi người đó không bị Điều 5 ràng buộc; đó là điểm cần hỏi cơ quan cấp phép trước khi nộp.

Quy tắc cấp phép và quản lý việc thuê người nước ngoài, Điều 9 khoản 2 điểm 5, lại tính cộng dồn khi xét bản sao bằng tốt nghiệp lúc xin cho người vào Đài Loan làm việc theo Luật Dịch vụ việc làm Điều 51 khoản 3. Miễn bằng nếu, tính từ ngày nộp đơn lùi lại một năm, số ngày đã thực hiện hợp đồng cộng với số ngày của lần xin này không vượt quá 90 ngày. Một chuyến 60 ngày vẫn phải kèm bằng nếu trong một năm trước người đó đã có 40 ngày thực hiện hợp đồng. Ba mốc này độc lập với nhau: nhóm 6 miễn khi kỳ từ 31 đến 90 ngày, Điều 9 khoản 2 điểm 5 miễn bằng khi cộng dồn không quá 90 ngày, Điều 7 dùng cộng dồn để quyết định có bị Điều 5 ràng buộc.

Khoản 2, theo Điều 51 khoản 3, chỉ lấy ba giấy của khoản 1 (đơn, biên lai phí và giấy khác do cơ quan trung ương quy định), rồi thêm hợp đồng nhận thầu, mua bán hoặc hợp tác kỹ thuật, giấy đăng ký pháp nhân trong nước và nước ngoài, thư pháp nhân nước ngoài cử người sang, giấy đăng ký hoặc thành lập của đơn vị nộp, danh sách và hộ chiếu. Giấy làm ở nước ngoài có thể phải hợp pháp hóa tại cơ quan đại diện của Đài Loan. Lệnh ngày 15 tháng 10 không xóa các mục này.

Công ty Việt chưa mở văn phòng tại Đài Loan

Luật Dịch vụ việc làm Điều 51 khoản 3 nói về pháp nhân nước ngoài. Để thực hiện hợp đồng nhận thầu, mua bán hoặc hợp tác kỹ thuật, pháp nhân đó cần cử người vào Đài Loan làm những việc thuộc Điều 46 khoản 1 điểm 1 hoặc điểm 2, trong phạm vi hợp đồng. Nếu pháp nhân chưa lập chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Đài Loan, đơn vị ký kết trong nước hoặc người được ủy quyền phải xin phép theo lệnh ban hành căn cứ Điều 48 khoản 2 và khoản 3.

Điểm 1 của Điều 46 là việc chuyên môn hoặc kỹ thuật. Người quản lý của doanh nghiệp do Hoa kiều hoặc người nước ngoài được chính phủ cho phép đầu tư hoặc thành lập là điểm 2. Điều 2 của quy tắc cấp phép gọi người làm các việc ở Điều 46 khoản 1 từ điểm 1 đến điểm 6 là người nước ngoài loại 1.

Một công ty ở Thành phố Hồ Chí Minh cử kỹ sư sang Đài Loan và chưa có chi nhánh hay văn phòng đại diện tại đây (ví dụ giả định). Nếu công việc nằm trong phạm vi hợp đồng và thuộc Điều 46 khoản 1 điểm 1 hoặc điểm 2, đó là trường hợp của Điều 51 khoản 3. Mục thực hiện hợp đồng trên Công báo còn có bản dịch tiếng Trung nếu hợp đồng không soạn bằng Trung-Anh, giấy ủy quyền nếu nộp qua đại lý, và tóm tắt nội dung công việc. Hợp đồng Trung-Anh thì miễn bản dịch.

Xưởng và nhà riêng đi lối khác

Điểm 8 đến điểm 10 của Điều 46 là đánh bắt, giúp việc, chăm sóc và việc được cơ quan trung ương chỉ định. Quy tắc gọi đó là loại 2. Điểm 11 là loại 3. Đơn của những nhóm đó không dùng tám dòng của mục thực hiện hợp đồng loại 1.

Đài Rti đưa tin Hiệp hội Lao động Quốc tế Đài Loan và các đoàn thể khác họp báo ngày 15 tháng 10 năm 2026, cùng ngày lệnh được ban hành. Họ nói một số thợ hàn được công ty nước ngoài cử vào điện gió ngoài khơi dưới danh nghĩa thực hiện hợp đồng, nhưng việc thực tế là thuê người. Các đoàn thể nêu trường hợp một hợp đồng ký ở Indonesia với lương tháng 48.000 Đài tệ bị đổi thành hợp đồng khoảng 100 Đài tệ một giờ; cũng có người phản ánh tiền làm thêm giờ, ngày nghỉ và bảo hiểm xã hội không được bảo đảm đủ. Đó là lời đoàn thể, không phải bản án, và không mô tả hộ chiếu Việt Nam.

Bộ Lao động, vẫn theo Đài Rti, nói khiếu nại gồm việc bị giao không đúng mục đích đã xin, không trả lương khi nghỉ vì tai nạn lao động, và không đóng bảo hiểm lao động cùng bảo hiểm y tế. Theo Bộ, các việc đó đụng Luật Tiêu chuẩn lao động, Luật Dịch vụ việc làm và Luật Phòng chống buôn người. Chính quyền địa phương đang điều tra, Bộ sẽ theo dõi, và bản tin chưa có kết luận xử lý.

Cùng lúc, Bộ nói pháp nhân nước ngoài cử người vì hợp đồng nhận thầu, mua bán hoặc hợp tác kỹ thuật vẫn phải theo Luật Dịch vụ việc làm. Dù hồ sơ có phải xin thêm giấy phép thuê hay không, hợp đồng lao động, điều kiện làm việc và bồi thường tai nạn vẫn theo hợp đồng và luật Đài Loan đang áp dụng. Thiếu hai giấy mới là chuyện của đơn xin phép. Lương và bảo hiểm là chuyện của quan hệ làm việc.

Mang gì khi hỏi về một chuyến sắp tới

Luật sư Wei Tseng (曾雋崴) tại Văn phòng Luật Quốc tế Hovering (昊鼎國際法律事務所) nhận câu hỏi về đơn xin phép thực hiện hợp đồng và về một khiếu nại lương hoặc tai nạn của người được cử sang, qua wei@hoveringlaw.com.tw. Văn phòng đặt tại 103 臺北市大同區承德路一段35號7樓之2 (7F-2, No. 35, Sec. 1, Chengde Rd., Datong Dist., Taipei City 103, Taiwan) và 40453 臺中市北區館前路19號6樓之1 (6F-1, No. 19, Guanqian Rd., North Dist., Taichung City 40453, Taiwan).

Email nên nói hộ chiếu mang quốc tịch nào, kỳ làm việc tính bằng ngày, công ty cử người đã có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Đài Loan chưa, và hợp đồng là nhận thầu, mua bán hay hợp tác kỹ thuật.

Nguồn tham khảo

Ngày kiểm tra: 22 tháng 10 năm 2026.

Câu hỏi thường gặp

Người Việt sang Đài Loan làm việc dưới 90 ngày có phải nộp bản tường trình và kế hoạch thực hiện hợp đồng không?
Không. Nếu kỳ làm việc đó từ 90 ngày trở xuống thì hai giấy này được miễn, kể cả với hộ chiếu Việt Nam. Theo điểm 2, mục thực hiện hợp đồng, trong văn bản sửa ngày 15 tháng 10 năm 2026, hai giấy được miễn nếu quốc tịch hộ chiếu không phải Indonesia, Philippines, Việt Nam hoặc Thái Lan, hoặc nếu thời gian làm việc từ 90 ngày trở xuống. Hộ chiếu Việt Nam không thuộc nhóm được miễn theo quốc tịch.
Công nhân nhà máy hoặc người giúp việc gia đình có nộp đúng danh sách này không?
Không. Quy tắc cấp phép, Điều 2, gọi loại 1 là người làm Luật Dịch vụ việc làm Điều 46 khoản 1 điểm 1 đến điểm 6. Danh sách ngày 15 tháng 10 là danh sách của đơn loại 1. Điểm 8 đến điểm 10 là loại 2: đánh bắt hải sản, giúp việc gia đình và chăm sóc, và các công việc do cơ quan trung ương chỉ định vì công trình trọng điểm quốc gia hoặc nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội; công việc sản xuất trong nhà máy là một trong các công việc được chỉ định đó (Tiêu chuẩn tư cách làm việc theo Luật Dịch vụ việc làm Điều 46 khoản 1 điểm 8 đến điểm 10, Điều 5 điểm 1). Điểm 11 là loại 3. Đơn của những nhóm đó không dùng tám dòng của mục thực hiện hợp đồng.
Báo nêu mức lương bị đổi của một người ký hợp đồng ở Indonesia. Đó đã là kết luận của cơ quan không?
Chưa. Đài Rti (Radio Taiwan International) ngày 15 tháng 10 năm 2026 đưa lời các đoàn thể về một hợp đồng ký ở Indonesia và về bảo hiểm, làm thêm, nghỉ phép. Bộ Lao động nói chính quyền địa phương đang điều tra theo thủ tục, và Bộ sẽ theo dõi. Đó là cáo buộc và giai đoạn điều tra, không phải kết luận đã xử lý xong một người cụ thể.

Bài viết này cung cấp thông tin chung, không phải là tư vấn pháp lý cho trường hợp cụ thể.

Giấy tờ mới khi người Việt sang Đài Loan thực hiện hợp đồng